Tuesday, February 24, 2026

Nhận diện con người Việt Nam (Bài 1)
Phạm Hồng Lam
24-2-2026
Tiengdan

Để hiểu một dân tộc, cần biết lối tư duy của dân tộc đó. Muốn biết cách suy tư của họ, cứ xét ngôn ngữ họ dùng. Cách diễn tả trong ngôn ngữ phản ảnh bản chất của một dân tộc.

Bài I: Nhận thức qua “Phạm Trù” và “Động – Tĩnh”

Tư duy và nhận thức của người Âu

Hầu hết các dân tộc ở châu Âu, cụ thể là các dân tộc trước đây nằm trong vùng ảnh hưởng của Đế quốc Rôma, đều có một nét văn hoá chung: Tư duy của họ đặt nền trên sự phân biệt phái tính. Lối tư duy này được phản ảnh qua ngôn ngữ họ dùng. Và ngôn ngữ của họ lại chịu ảnh hưởng của tiếng Hy Lạp và Latin, đặc biệt là Latin. Ảnh hưởng chữ Latin trên các dân tộc Âu châu có thể sánh như ảnh hưởng của chữ Nho xưa kia trên các dân tộc Hán, Việt, Nhật và Hàn.

Người Latin là một bộ tộc xuất hiện cách đây vào khoảng ba ngàn năm tại miền đất mà nay gọi là Italia. Họ sống trong vùng Latinum, hạ lưu sông Tiber, bên cạnh bộ tộc Roma. Vào giữa thế kỷ thứ VI trước công nguyên, sau nhiều cuộc chiến, tộc Roma rốt cuộc đã chiến thắng tộc Latin và sát nhập họ vào mình, để biến thành trung tâm của Đế quốc Roma về sau này.

Tộc Latin có một nền văn hoá cao, thể hiện qua ngôn ngữ và chữ viết của họ – chữ Latin với các vần a, b, c…, như ta thấy rất phổ biến ngày nay. Và ngôn ngữ này đã được phổ biến rộng rãi theo đà phát triển của Đế quốc Roma.

Khi một dân tộc nhận vào mình một thứ ngôn ngữ nào, thì cũng có nghĩa là dân tộc đó bị ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ và nhận thức của ngôn ngữ đó.

Người Latin tư duy trên nền tảng phái tính. Họ dùng lăng kính Giới Tính để nhận thức và phân loại thực tại, cả thực tại hữu hình lẫn vô hình. Trước một thực tại, câu hỏi đầu tiên – đã thành vô thức – trong đầu họ là: Đối tượng này thuộc giống nào: Đực, cái hay trung tính? Không rõ trước khi chịu ảnh hưởng la-tin các tộc Âu châu đã sẵn có lối tư duy phái tính chưa. Dù sao, một khi đã bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ Latin, tư duy của họ chắc chắn cũng bị đổi theo.

Phái tính (đực, cái hay trung tính) nơi tiếng Latin, cũng như nơi tiếng Rumani và Bungari, không được biểu thị bằng các mạo từ đứng trước danh từ, mà bằng các lối chia hoặc các thay đổi vần cuối của từ ngữ.

Nơi tiếng Đức, Pháp, Ý, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, sự phân biệt phái tính được xác định bởi các mạo từ.

Người Pháp nhận thức đối tượng ở hai giống: Đực (với mạo từ Le như le mari: Người chồng, le boeuf: bò đực, le pain: bánh mì – đực!) hay Cái (với mạo từ La, như la femme: Đàn bà hay người vợ, la vache: bò cái, la baguette: bánh mì ba-gét – cái!). Người Ý với mạo từ Il (đực) và La (cái). Người Tây-ban-nha với El (đực), La (cái). Người Bồ-đào-nha với O (đực) và A (cái).

Tiếng Đức gần Latin hơn, ngoài giống Đực (mạo từ Der) và Cái (Die), còn thêm một giống nữa: Trung Tính (Das). Trung tính không chỉ dành cho một số sự vật và động vật, mà ngay cả con người cũng được xếp vào loại này: Trẻ con (das Kind) và thiếu nữ ở tuổi vị thành niên (das Mädchen) được coi là trung tính.

Riêng các tộc Anglo-Saxon (Anh, Wales, Ái-nhĩ-lan) trước đây tuy cũng chịu ảnh hưởng của Đế quốc Roma và nay vẫn dùng vần latin, nhưng ngôn ngữ của họ không bị ảnh hưởng về lối tư duy phái tính của Latin.

Hy Lạp cũng nằm trong Đế quốc Roma. Nhưng dân tộc này có chữ viết riêng rất sớm và hệ thống chữ viết của họ được phổ biến rộng rãi vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, nhờ những cuộc chinh phạt của Đại Đế Alexander. Và khi Đế quốc Roma phân thành hai khối: Đế quốc Roma Phía Tây với kinh đô Roma và Đế quốc Roma Phía Đông với kinh đô Constantinopel, thì tiếng Hy Lạp đã được dùng làm quốc ngữ chung cho Đế quốc Roma Phía Đông, trong khi quốc ngữ chung của Đế quốc Roma phía Tây là Latin. Latinum trước đây vốn là vùng đất chính của Quốc gia Giáo Hội, nên nước Vatican (Toà Thánh) ngày nay vẫn dùng Latin như là quốc ngữ chính thức của mình.

Dân Hy Lạp cũng tư duy trên nền tảng phái tính. Ngôn ngữ của họ cũng có ba giống được biểu thị bằng các mạo từ đi trước danh từ: O (đực), η (cái) và Τo (trung tính).

Tóm lại, vì nhận thức thực tại trước hết và trên hết qua lăng kính Giới Tính, nên các dân tộc Âu châu nhạy cảm với những gì liên quan đến phái tính. Kitô giáo, vốn là văn hoá nền tảng của Âu châu và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư duy Latin và Hy Lạp, là tôn giáo đầu tiên nói tới sự bình đẳng nam nữ. Nữ giới ở Âu châu vì thế sớm ý thức về vai trò và chỗ đứng của mình, để từ đó đấu tranh cho sự bình đẳng của họ. Người Âu ngày nay thông thoáng về chuyện tình dục và dễ dàng đề cập tới nó. Gender-study là một sản phẩm từ Mỹ, nhưng lại được vận dụng tích cực ở Âu châu.

Ở đây có một điểm khó hiểu: Tại sao cùng một thực tại mà các dân tộc nói trên lại nhận thức khác nhau về mặt phái tính? Cùng là “Mặt Trời”, người Pháp, Hy Lạp, Latin nhận dạng đó là “ông Trời” (Le Soleil), người Đức thì lại gọi là “bà Trời” (die Sonne)? Tại sao người Đức gọi anh Trăng (der Mond), trong khi người Pháp lại gọi là chị Trăng (la lune)?

Còn người Việt thì thế nào cũng xong, lúc thì “ông Trời”, lúc thì [ông Trăng mà lấy] “bà Trời”, vừa ông Trăng lẫn chị Hằng. Tiên: Bà tiên hay Cô tiên và Phật: Ông ở Trung-hoa, khi sang Việt Nam, lại được gắn cho thêm một phái tính nữa là Tiên Ông, Phật Bà Quan Âm.

Đây là lãnh vực nói lên vũ trụ tư duy và nhận thức vô cùng thâm thuý và đặc trưng của mỗi dân tộc. Nhưng nó không thuộc vào đề tài khảo sát này.

Tư duy và nhận thức của người Việt Nam

Người Việt không nhận thức qua lăng kính Giới Tính. Trái lại, họ nhận thức qua lăng kính Loại/ Loài hay Phạm Trù (Kategorie) và lăng kính Động-Tĩnh.

Trước một thực tại, người Việt không hỏi, đây là nam hay nữ, đực hay cái. Mà họ xếp ngay đối tượng đó thuộc Loại nào: loại NGƯỜI (người Mỹ, người Ăn Mày, người Cộng Sản), loại CHIM (chim Cu, chim Đa-đa) loại CÂY (cây Khế, cây Chanh), loại HOA (hoa Ti-gôn, hoa Nhài), loại ĐỒ (vật), loại ĂN v.v..

Ở đây, cần thêm vài dòng về từ loại: Đồ và Ăn. Vì đã không hiểu ra lối tư duy theo Loại hay Phạm Trù, nên cho tới nay vẫn có nhiều người suy diễn sai về hai từ này. Thậm chí đã có những nhận định sai về từ ĂN trong một số nghiên cứu nghiêm chỉnh.

Đồ là chữ viết tắt của Đồ Vật. Nó là một loại từ chỉ chung tất cả những gì thuộc đồ vật. Về chất liệu, chẳng hạn ta có: Đồ đá, đồ đồng, đố sứ, đồ sắt; “nghĩ rằng Đồ Thật hoá Đồ Chơi!” (Tiến Sĩ Giấy – Nguyễn Khuyến). Về ẩm thực: Đồ ăn, đồ uống, đồ nóng, đồ lạnh. Về y phục: Đồ trang sức, đồ lót, đồ may mặc. Sính của ngoại: Đồ Tàu, đồ Tây, đồ Mỹ. Thích của lạ: “Ra đi cho biết Đồ Sơn, đi rồi mới biết không hơn Đồ Nhà”!

Từ ĂN, ngoài nghĩa thông thường (nghĩa đen) chủ yếu là một động từ: Đưa một thứ gì vào miệng và nhai nuốt, còn có nghĩa (bóng) là tìm cách thu nhận hoặc thủ đắc cho mình một cái lợi nào đó. Với nghĩa (bóng) này, ta có tới hàng trăm từ kép đi với Ăn: Ăn cướp, ăn trộm (chiếm một cái lợi cho mình bằng con đường bất chính); ăn năn (tìm sự tha thứ – cái lợi cho mình qua đường hối lỗi); ăn tục nói phét (tìm danh cho mình bằng ngôn từ dao to búa lớn); ăn hại, ăn dầm nằm dề (tìm lợi cho mình bằng cách tạo bất lợi cho người khác); ăn sống nuốt tươi: Vừa có nghĩa đen lẫn nghĩa bóng; nghĩa bóng là giành cái lợi cho mình qua việc đe doạ người khác. Ăn cưới, ăn hỏi cũng mang cả hai nghĩa: Nghĩa bóng là thủ đắc vợ hoặc chồng cho mình qua thủ tục cưới hỏi. Ăn nằm: Tìm lợi thú cho mình qua việc chăn gối.

Trước đây, khi bàn tới từ Ăn, một số nhà nghiên cứu cho rằng, cái đói là một hằng số trong suốt lịch sử nước nhà, nên dân tộc ta đã bị ám ảnh bởi cái đói, và vì thế chữ Ăn đã đi vào khắp nơi trong ngôn ngữ! Nay thì đã rõ: Nghĩa bóng của Ăn cũng được dùng như một loại từ để diễn tả một phạm trù chung.

Người Âu nhận thức trực tiếp vào sự vật, nắm bắt ngay sự vật, không qua cầu phân Loại. Hỏi: Cái gì đó? – Thưa: Die Narzisse! (Thuỷ-tiên – cái! Người Việt sẽ trả lời: Hoa Thuỷ-tiên); – Der Lotus! (Sen – đực! Người Việt: Hoa Sen); – An American! (một Mỹ – nam! Người Việt: Một người Mỹ đàn ông)…

Còn ta nhận thức theo lối bắc cầu, qua cầu tổng hợp để đi vào từng cá thể.

Hai lối nhận thức trực tiếp hay bắc cầu này ảnh hưởng cụ thể trên nếp nghĩ và lối ứng xử của mỗi dân tộc. Tư duy bắc cầu mang tính quy nạp, cổ vũ óc tổng hợp (chín bỏ làm mười, chuộng sự hài hòa, nghĩ qua-loa, làm phiên-phiến). Tư duy trực tiếp mang tính phân tích, cổ xuý tinh thần khoa học, chuộng việc truy tìm chân lý.

Song song với cầu Loại hay Phạm Trù, người Việt còn nhận thức qua cầu Động-Tĩnh. Trước một thực tại, câu hỏi vô thức của họ: Thực tại này thuộc thế giới Động hay Tĩnh?

Tất cả các động vật (nhân vật, thú vật) được người Việt xếp vào thế giới Động với mạo từ CON. Các sự vật hay đồ vật được xếp vào thế giới Tĩnh: CÁI. Như vậy, Động có nghĩa là có sự sống; Tĩnh là không có sự sống. Chữ “sống động” nói lên ý nghĩa đó: hễ sống là có động.

Những sự vật hay đồ vật nào có thể di động khi sử dụng hay lúc vận hành thì cũng được xếp vào loại CON: Con dao (di động khi chặt, bằm, đâm; dao nằm yên một chỗ có thể gọi Cái dao), Con thuyền (nếu cắm sào đứng yên thì gọi là Cái ghe), Cơn mây – vần vũ trên trời (Con đọc thành Cơn), Con nước – cuồn cuộn trong sông, Con suối – róc rách, CON cu (chỉ bộ phận sinh dục nam; ‘Chim’ Cu là một động vật, nói lên nguyên lý Động), CÁI hĩm (chỉ bộ phận sinh dục nữ, mang nguyên lý Tĩnh).

Trai hay gái cũng là Con: con trai, con gái, vì cả hai đều là động vật. Nhưng qua lối gọi của người bình dân: Thằng Bò, cái Nhớn, cái Bé (Anh Phải Sống của Khái Hưng), và qua hình ảnh biểu tượng con Cu cái Hĩm, ta cũng thấy rằng, Con biểu hiện Nam giới, Cái biểu hiện Nữ giới. Chẳng có bạn hữu nào lâu ngày gặp nhau, hỏi: “Con ra sao rồi”? Mà phải: “Con cái ra sao rồi”, thì mới đầy đủ. Nàng về nuôi Cái cùng Con, để anh đi trẩy nước non Cao Bằng! Câu Nguyễn Trãi hỏi Nguyễn Thị Lộ: “Đã có chồng chưa, được mấy con” có lẽ vì bị hạn chế bởi thi vận nên thiếu mất từ “cái”? Hay ở đây ông cố vấn họ Nguyễn cũng đã nghĩ tới nguyên lý Động, khi hỏi như thế?

Có người bảo, chữ Cái trong câu “nàng về nuôi cái cùng con” có nghĩa là Mẹ, bởi vì nó cũng cùng một nghĩa như trong “con dại cái mang” (con hư tại mẹ). Vâng, có thể hiểu như thế. Nhưng đây lại là thêm một nghĩa khác của từ Cái, nằm ngoài ngữ cảnh đang luận bàn. Cũng như “đường cái” (đường quan) là con đường lớn, đường chính, khác với “đường con” là lối đi nhỏ, đường phụ, đường hẻm.

CON và CÁI là một nhận thức thuần Việt. Trong Lột Trần Việt Ngữ, Bình Nguyên Lộc cho hay, các dân tộc chung quanh Việt Nam như Mã-lai, Nam-dương, Chàm, Thái, Nhật, Cao-miên đều không có hai khái niệm CON và CÁI. Lại nữa, theo Ngô Nhân Dụng (Đứng Vững Ngàn Năm, Người Việt 2013, đặc biệt chương Người Việt dùng chữ Hán, tr. 209-220), CON và CÁI chỉ áp dụng hoàn chỉnh với những từ thuần (gốc) Việt, chứ những từ lai Hán (Hán -Việt) nhiều trường hợp không áp dụng được. Nói chung, những từ nào không đi được với CON và CÁI thường là từ lai Hán.

Cũng theo tác giả họ Ngô, trong quá trình tiếp xúc với văn hoá Trung-hoa, người Việt đã dần đưa vào kho ngôn ngữ đang phôi thai của mình những từ gốc Hán, để diễn tả những thứ có thể lúc đó mình chưa có. Chẳng hạn: Bút, Bàn, Sách, Học, Côn, Kiếm, Quần. CÁI có thể áp dụng cho những từ lai Hán đứng độc lập đã được Việt hoá như Cái Bàn, Cái Bút, Cái Quần; nhưng không thể nói Cái Thụ (Cái Cây [Việt]), Con Nữ (con Gái [Việt]).

Như vậy, Nam thuộc nguyên lý Động, Nữ thuộc nguyên lý Tĩnh. Mà Động có giá trị hơn Tĩnhnên có chuyện “nam trọng n khinh”; đồ vật không quý bằng động vật; Cái kém giá trị hơn Con.

Thế nên, một khi Con biến thành Cái, có nghĩa là bị đồ vật hoá, thì nó mang nghĩa xấu.

Ngôn ngữ chửi là một thí dụ. Hãy bỏ qua sự thô tục của lời văn.

Hoạt cảnh sau đây tôi được mục kích lúc còn nhỏ: “Mả cha CÁI thằng L.!”… Bên kia đường, một bà đứng vén quần chõ miệng sang chửi. Chửi một lúc, bà bỏ vô nhà, rồi lại ra chửi tiếp. Bà nguyền rủa, đào bới hết tổ tiên nhiều đời của ông nhà bên kia đường: “Mả cha CÁI thằng cha mi! Mả cha CÁI con mẹ mi!” … Và, có lẽ vì quá giận bởi lối chửi bất kham và dai dẳng, ông bên này đường bỗng bước ra sân, hét sang phía bên kia: “Mả chi, mả CÁI con c.c. tau đây này!” Rồi biến vào nhà. Thế là, như lân gặp pháo, bà bên kia lồng lên, cong cớn đay nghiến: “Láo hè! CON c.c mi ăn thua chi bằng CÁI l. tau!”

Cái thằng L., Cái con c…, Cái thằng cha mi, Cái con mẹ mi”. Ở đây, vật và người đã bị tước đi phẩm cách, nghĩa là đã bị đồ vật hoá, để biến thành những thứ cặn bã, xấu xa. Nếu không có từ CÁI để nói lên sự đồ vật hoá, lời chửi thiếu hồn.

Chữ Cái dùng trong hai câu ca dao sau đây cũng nằm trong âm hưởng đó: Cái Cò cái Vạc cái Nông, sao (chúng) mày dẵm lúa nhà ông hỡi Cò! Lẽ ra phải là “con Cò con Vạc con Nông…”, nhưng Con ở đây đã biến thành Cái, nghĩa là bị đồ vật hoá, với ý nghĩa đó là một lời trách móc, thóa mạ. Đó là nghĩa đen. Nghĩa ẩn dụ của hai câu thơ muốn nói lên hình ảnh một người đàn bà đang phải lặn lội ngoài đồng kiếm của ăn cho con cái; chữ Cái ở đây như vậy ám chỉ một người nữ.

Loại từ ĐỒ cũng thế. Để chửi một kẻ vô ơn: Đồ ăn cháo đá bát! Đồ ăn hại! Đồ vô phúc! Hay chửu một kẻ thiếu thành thật: Đồ đểu! Đồ lưu manh! Chửi một kẻ ác độc: Đồ súc sinh! Đồ chết tiệt! Nếu câu chửi chỉ là: “Mầy là kẻ vô ơn/ tay lưu manh/ tên độc ác”, thì đối tượng bị chửi một cách nào đó vẫn còn chất người. Phải có chữ Đồ vào, để tước đi cái chất người ra khỏi họ, nghĩa là biến họ thành đồ vật, thì câu chửi mới đã, ý chửi mới thâm!

Tháng 10/2021 — tháng 2/2026

(Còn tiếp)

No comments:

Post a Comment