Nhận diện con người Việt Nam (Bài 2)Phạm Hồng Lam
26-2-2026
Tiengdan
Tiếp theo bài 1
Để hiểu một dân tộc, cần biết lối tư duy của dân tộc đó. Muốn biết cách suy tư của họ, cứ xét ngôn ngữ họ dùng. Cách diễn tả trong ngôn ngữ phản ảnh bản chất của một dân tộc.
Bài II: Văn hóa “Tình”
Quê tôi có một ông tên là “cu Ba”. Nhỏ con, hay rượu, nên mặt mũi thường đỏ gay. Vì là con trai đầu lòng, người ta đệm thêm chữ “cu” vào tên gọi của ông. Ai có con gái đầu, được đệm thêm từ “Hoe”, chẳng hạn như ông “hoe Quy”.
Không hiểu ông có biết chữ hay không, chứ khả năng làm thơ thì khỏi nói. Có mặt ông, đám gánh nhà nào, dù căn nhà nặng bao nhiêu, cũng trở nên nhẹ tênh. Ông hò lên hai câu thơ trào phúng, ba bốn chục thanh niên vỡ bụng cười, xông vai vào khiêng căn nhà kéo một hơi đi cả trăm mét không nghỉ.
Ông cũng thường xuất hiện trong các đám gặt lúa. Đàn bà con gái cắt lúa, đàn ông thanh niên đập lúa ngay giữa đồng. Công việc nặng nhọc, nhưng cảm thấy vui, nhẹ nhàng, nhờ những câu thơ xuất khẩu rất hợp tình hợp cảnh và luôn vướng chút mùi tục của ông. Mặt trời như thiêu đốt không gian, nhưng những tiếng cười vẫn nổ vang. Bất cứ gặp tình cảnh nào, ông cũng đều có ngay những câu thơ tương ứng. Tài thật…
Nhưng kinh nghiệm cuộc đời cho tôi thấy, người Việt không chỉ có một ông cu Ba, mà có rất nhiều người có khả năng xuất khẩu thành thơ như ông. Xem ra thiên nhiên đã cài sẵn di tử (gen) ca dao trong mỗi con người Việt Nam. Người Việt sính thơ, vì cuộc sống của họ chan đầy tình cảm? Hay vì tình cảm, mà dân mình thích thơ? Và thơ, ca dao vốn là phương tiện thích hợp nhất để diễn tả tâm tình. Người Việt giỏi thơ và làm thơ hay, nhưng lại thiếu óc khoa học. Vì sao?
Khái niệm “khoa học” là một cái gì rất mới đối với chúng ta. Nó chỉ mới có hơn 100 năm nay, kể từ khi người Pháp đem nền tân học thay cho lối học cũ vào đầu thế kỷ 20. Trong khi các dân tộc Âu châu làm quen với khoa học đã trên dưới 600 năm rồi. Trước đây, “khoa học” của chúng ta chủ yếu là các câu thần chú của thầy Khổng, thầy Mạnh nằm gọn trong Tứ thư, Ngũ kinh. Thêm vào đó là một số hiểu biết mang tính cha truyền con nối, chứa đựng nơi những câu ca dao, tục ngữ.
Khoa học đòi hỏi cái nhìn khách quan. Khách quan là khả năng tự tách mình ra khỏi đối tượng, để quan sát, phân tích và nhận định nó qua những dữ kiện có được, chứ không qua sự thúc đẩy của con tim. Có khách quan tìm hiểu, thì mới có được chân lý. Như vậy, khách quan gắn liền với lý trí. Song vì đã đắm chìm trong tình cảm, họ không thể có được tính khách quan, vốn là một yếu tố quan trọng hình thành nên khoa học.
Vi vậy mà dân Việt nói riêng, và dân Á Đông nói chung, không phát triển được khoa học. Người Á Đông đã có rất sớm nhiều tư tưởng hay và đã có nhiều khám phá kỹ thuật thần kỳ, nhưng đã chẳng có được sự minh bạch và chính xác của lý trí để phân tích và hệ thống hóa chúng, hầu biến thành khoa học. Trong khi đó, lý trí phương Tây đã biết nắm lấy những thứ đó, để đi tới.
Khoa học coi trọng lý trí. Trong khi chúng ta thì “một trăm cái Lý không bằng một tí cái Tình”. Đó là phương châm và minh triết sống của người Việt. Chuyện đúng hay sai chẳng cần biết, chỉ cần vo cho tròn là được. Có người dám cả “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” (tựa đề một cuốn sách được giải thưởng thời Đệ Nhất Cộng Hoà của Nguyễn Mạnh Côn)! Họ trân trọng Tình. Còn Lý là thứ có cũng tốt mà không cũng chả sao.
Cố giáo sư Trần Duy Nhiên kể[i]: Trong một buổi trao đổi (năm 2002) với các sinh viên thần học của một Học Viện tại Sài Gòn, giáo sư Nguyễn Khắc Dương phát biểu: “Ở Việt Nam không có trí thức, chỉ có sĩ phu mà thôi” và ông giải thích: “Người trí thức tìm kiếm cái Chân, còn người sĩ phu tìm kiếm cái Thiện. Người phương Tây luôn luôn tìm sự thật vì sự thật, và sống chết cho sự thật. Đối với người phương Đông, đặc biệt là người VN, thì đúng sai không thành vấn đề lắm, miễn làm sao sống có đạo đức, nghĩa là hợp với cái Thiện. Nói sai sự thật một chút cũng chẳng sao, miễn là mối giao tiếp giữa con người được hòa thuận”.
Một thí dụ cho thấy sự miệt thị sự thật là các bài điếu văn cho các nhân vật vị vọng. Sống chả làm gì hoặc lỗi lầm gia trọng, chết thì lại được ca khen hết cỡ. Ca khen đến phi lý. Những bài điếu đó cứ thế được gom nhặt thành Tiểu Sử; Tiểu Sử dần trở thành Lịch Sử. Mà Lịch Sử theo quan niệm của người Việt là gì? Đỗ Kim Thêm[ii] cho hay, người Âu-Mỹ quan niệm Lịch Sử là “toàn bộ vấn đề xảy ra được ghi chép cẩn thận và nghiên cứu nghiêm túc”. Còn người Việt thì lại coi đó là một biến cố rất quan trọng; nhưng quan trọng thế nào, thì còn tùy vào quan điểm, lối nhìn, tình cảm của người viết!
Khi người Âu-Mỹ nói: Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử, thì có nghĩa trước tiên: Đây là một nhân vật có mặt thật sự và được ghi nhận rõ ràng trong một không gian và thời gian nhất định. Còn người mình thì hiểu: Đó là một nhân vật có ảnh hưởng rất lớn. Mà lớn thế nào? Tuỳ. Ông Quốc Gia bảo, “nó” là một “tên đại đểu, đại bịp”! Bà Cộng Sản thì bảo, “hãy học tập tư tưởng và sống theo gương đạo đức của Bác Hồ vĩ đại”! Còn nhân vật đó thật sự là ai, gốc gác như thế nào, địa hạt này ta dành cho người ngoại quốc, còn mình chẳng mấy ai quan tâm. Mà không quan tâm là phải, vì mình có thiết gì sự thật lắm đâu.
Đặc điểm không màng sự thật này của dân tộc Việt đã được Hàn Dũ (768-824) nói tới cách đây 13 thế kỷ: “Việt tộc bất hiếu cổ. Lưu truyền thất kỳ chân”: Người Việt không thích điều xưa cũ. Mà có lưu truyền thì lại làm mất sự thật. Hay như Trần Khuê [iii] diễn tả một cách mới: “Ở ta có cái nguy là hai tư tưởng đúng-sai cùng tồn tại; chả ai phê phán đúng-sai, nên dần cái Đúng Thật thì bỏ quên, cái Sai thì dần thành cái Đúng Giả mà tưởng là cái Đúng Thật”.
Lý trí khoa học đòi hỏi sự chuẩn xác, đó là thứ chúng ta lại thiếu.
Đầu thập niên 80, chúng tôi là một nhóm vài chục sinh viên ngoại quốc. Ông linh mục tuyên uý người Đức tạo cơ hội cho chúng tôi gặp gỡ, bằng cách cứ mỗi tháng lại tụ về căn hộ của ông nói chuyện và ăn uống. Mỗi cuộc họp, một quốc gia phụ trách nấu nướng. Trong lúc cả nhóm trao đổi một đề tài, thì quốc gia tới phiên lo chuyện làm bếp. Tôi ngạc nhiên thích thú theo dõi anh người Nhật nấu cơm. Anh mang tới một cái ca riêng có ghi dung lượng để đong nước và đong gạo. Khi biết số người dự, anh tính ra phải cần bao nhiêu ca gạo, vo qua, cho vào nồi và đổ vào bao nhiêu ca nước. Bật lò đợt 1 rồi ra ngồi tham dự câu chuyện. Xưa nay chưa có người tới phiên nấu nướng nào bài bản và ung dung như anh này. Đúng bao nhiêu phút, anh trở vô bếp, rồi lại ra dự tiếp. Hay thật, nồi cơm của anh có công thức rõ ràng: Bao nhiêu người bấy nhiêu gạo và bấy nhiêu nước; bao nhiêu gạo nước, bấy nhiêu phút thì sôi, bấy nhiêu phút phải hãm điện, bấy nhiêu thời gian thì cơm chín. Mọi công đoạn đều được chuẩn hóa. Nhờ có công thức chuẩn hóa như thế, việc truyền dạy nấu cơm trở nên dễ dàng.
Người Nhật truyền dạy một công thức nấu ăn, chứ không truyền thừa một kinh nghiệm mơ hồ như kiểu chúng ta: “Cơm sôi bớt lửa một đời không khê”!
Tóm lại, vì quá dựa trên tình cảm, chúng ta thiếu sự chính xác của lý trí, không tôn trọng sự thật, nhập nhằng trong các khái niệm khoa học. Vì thế, về mặt kỹ thuật, chúng ta chẳng có được sáng chế kỹ thuật nào, đã đành; về mặt khoa học xã hội (lịch sử, kinh tế, chính trị…), những quan điểm của chúng ta cũng vì thế chẳng có giá trị.
Thiếu tự tin
Người Nhật tiếp thu Khoa Học trước mình cỡ 50 năm, đâu có lâu gì. Nhưng tại sao họ phát triển được khoa học và có được đầu óc khoa học, chứ không như chúng ta?
Có thể là vì dân Nhật không có “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”. Và nhất là có thể vì họ đủ tự tin nơi chính họ, nơi dân tộc họ.
Cũng Trần Duy Nhiên kể lại: Khi Roland Jacques, một linh mục công giáo và là giáo sư một đại học ở Canađa đến khoa Việt Hán Trường Khoa Học Xã Hội tại Sài Gòn, để công bố một số văn bản xưa nhất về chữ quốc ngữ mà ông đã phát hiện trong thư viện lưu trữ của dòng Tên ở Lissabon. Ông tình cờ gặp giáo sư Nguyễn Văn Trung cũng từ Canađa vừa về Việt Nam. Vì đã biết nhau ở Canađa, giáo sư Trung liền vồn vã lên tiếng chào: “Bonjour mon père” (chào cha). Linh mục Jacques nắm tay kéo giáo sư Nhiên ra hai bước mà nói nhỏ nhưng dứt khoát: “Nói dùm với ông ấy đừng dùng chữ père ở giữa các giáo sư như thế này”. Roland Jacques muốn xác định rõ ràng rằng, mình là giáo sư giữa những giáo sư, và công trình mà mình sắp trình bày là một công trình khoa học, chứ không dính dấp gì đến chức linh mục.
Nếu ở vào hoàn cảnh của Roland Jacques, người Việt chúng ta sẽ phản ứng ra sao? Cá nhân tôi tin rằng, hẳn sẽ chẳng ai cảm thấy khó chịu gì cả. Là vì người mình coi chức tước giáo sĩ quan trọng hơn chuyện khoa học.
Nếu chỉ như thế, thì cũng chẳng sao. Nhưng nguy hiểm, là khi người ta lấy chức tước hay địa vị lẫn học vị làm bảo chứng cho khả năng chuyên môn.
Thí dụ đầy rẫy trên các hệ thống truyền thông. Cũng một điều đó, một nội dung đó do một ai đó nói hay viết ra – nhiều khi hay hơn, sâu sắc hơn – thì người ta chẳng quan tâm; nhưng nếu nó từ miệng hay ngòi bút của một vị có chút tước (tiến sĩ, đại đức, linh mục, mục sư) thêm vào, thì thiên hạ xuýt xoa nhận lấy như đó là chân lý.
Một kinh nghiệm nữa: Chúng tôi thực hiện một tuyển tập chuyên đề. Nhiều người viết, có cả giáo sĩ. Nhiều người đưa đề nghị: Chỉ ghi tên tác giả mà thôi, không ghi chức danh gì cả. Thì có ý kiến chống lại ngay: Phải ghi cả chức tước cho các giáo sĩ, vì đây không phải là chức, mà là phẩm chất của người viết và vì “người ta không chịu như thế đâu”!
Chuyện xem ra chẳng có gì, nhưng suýt rách việc. Trước đây, tôi cũng đã có kinh nghiệm tương tự đối với một tạp chí nghiên cứu. Một phía thì cứ khăng khăng phải ghi chức danh, đặc biệt chức tước giáo sĩ, vào trước tên tác giả. Một phía thì bảo, chỉ ghi tên không mà thôi: Tên của họ là bảo chứng cho những gì họ viết; còn nếu cần để cho độc giả biết thêm về hậu cảnh chuyên môn của tác giả, thì ghi thêm tước vị, học vị, nghề nghiệp và các sáng tác của họ như một ghi chú ở cuối trang hay cuối bài. Cuối cùng, nhờ một người ngoại quốc (cũng lại là Roland Jacques!), mà quan điểm sau thắng thế: Người ta viết với tư cách làm khoa học, chứ không phải với tư cách một nhà tu!
Tại sao người mình lấn cấn về chuyện này? Theo tôi, chung quy cũng tại vì thiếu tự tin. Họ không quen sống tự lập, không tin vào khả năng mình, thành ra phải cần những cái mặt (nạ) đễ hỗ trợ. Chỉ sợ mất “mặt”. Những “mặt” chức tước (giáo sư, phó giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, linh mục, mục sư, thượng toạ, nhà văn, nhà báo…), “mặt” bằng cấp (tiến sĩ, phó tiến sĩ, thạc sĩ…). Không có những thứ đó, họ cảm thấy mình trần tuồng, vô giá trị. Đây là một trong những lý do cắt nghĩa cho cảnh loạn chợ mua sắm bằng cấp hiện nay ở Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Tình cảm biến thành ngôn ngữ
Sống trong vũ trụ tình cảm đã là một bất lợi cho sự phát triển tinh thần khoa học. Điều còn nguy hiểm hơn, là vũ trụ tình cảm đó đã biến thành ngôn ngữ danh xưng và giao tiếp hàng ngày. Đây là yếu tố nguy hiểm nhất giết chết tinh thần khoa học.
Với người Việt, làm văn hóa hay làm khoa học, trước hết là một cách thế để tuyên xưng hoặc giải toả tình cảm cá nhân.
Người Âu-Mỹ diễn tả một sự kiện, không đánh giá. Cũng một sự kiện đó, khi được diễn tả qua Việt ngữ, người ta biến nó thành một tình cảm chủ quan cá nhân, bằng cách sử dụng những từ nhân xưng đượm cảm tính như: Đức, Cụ, Ông, Hắn, Ngài, Ông ta, Bà ta, Nó, Thằng, Kẻ, Tên đó…
Đụng tới Nguyễn Khuyến là phải “cụ”; Hitler, Mao, Hồ là phải “Y”, Tăng Thống X, Y nào đó là phải “đức”. Tại sao không thể viết tên của họ một cách đơn giản và không đánh giá như: “Nguyễn Khuyến là nhà thơ ở Yên Đỗ”, “Hồ Chí Minh bịt râu đi xem bộ hạ giết bà Cát Thanh Long” (Trần Đĩnh), “Gioan Phaolô II được tôn làm thánh trong Giáo Hội công giáo”?
Lối xưng hô “cụ”, “y”, “đức” ở đây được coi là “phải đạo”, đúng “chính danh”. Nhưng sự chính danh này lại tùy vào thái độ tình cảm của mỗi người, của mỗi tập thể bênh hay chống, ghét hay thương. Cũng một nhân vật, khi thương thì một “ông” hai “đức”, khi ghét thì “y”, “hắn”. Phẩm giá của một con người như vậy bị tước đi một cách tùy tiện. Làm sao hoàn trả cái mất mát đó, khi cơm lành canh ngọt trở lại? Người Đức có câu với lối chơi chữ: “Ein Urteil kann man noch ändern, ein Vorurteil nicht”. (Một bản án của toà án có thể sửa đổi, nhưng một định kiến thì không). Như vậy, tính chính danh Nho giáo triệt tiêu tính khách quan khoa học.
Thêm nữa, cũng vì không phân biệt được giữa khách quan khoa học và chủ quan tình cảm, nhiều tài liệu liên quan tới tôn giáo đã bị biến thành kinh kệ cho riêng một nhóm tín đồ. Chẳng hạn, khi dịch lá thư “Hoà Bình Trên Địa Cầu” gởi đến “tất cả mọi người thiện chí” trên thế giới, có người đã thoải mái dùng chữ “Ta” kênh kiệu để dịch chữ “Nous”, “We” (Chúng tôi) hoặc chữ “Các con” để dịch chữ “Vous”, You” (các Bạn, Quý vị) của giáo tông Gioan XXIII. Chỉ có người Việt bắt Gioan XXIII phải cao ngạo như thế, chứ bản thân Giáo Tông này đâu như thế!
Vì trọng tình, người Việt thiếu văn hóa Đối Thoại. Đối thoại cần lý trí biện giải, chứ không cần khả năng mắng chửi. Và cũng vì trọng tình, chỉ dựa trên tình cảm, hầu hết những cuộc kết hợp làm ăn – kể cả giữa chính những người trong thân tộc, mà tôi thấy ở hải ngoại – đều tan vỡ hoặc thất bại, vì thiếu một hợp đồng rõ ràng ngay từ đầu. Đó là hai hệ luỵ rõ nét nhất trong cuộc sống thường ngày.
Cần học hỏi và trau dồi tính khách quan
Như vậy, muốn có khoa học để giúp đất nước phát triển, để giúp dân tộc có được tiến bộ với những sáng tạo trong mọi nghành, người Việt chúng ta cần học và trau giồi tính khách quan. Nghĩa là phải biết dùng sự trong sáng và chính xác của Lý Trí để quan sát, phân tích và nhận định sự việc. Điều này thật ra không dễ, vì bản chất của người mình vốn không thích suy nghĩ và lý luận. Để có khách quan, phải luôn luôn ý thức, để thoát ra khỏi sự chi phối nặng nề của tình cảm. Ở đây dĩ nhiên tôi không nói phải loại trừ hoàn toàn tình cảm.
Mà do tình cảm đã biến thành ngôn ngữ thường ngày, nên điều phải ý thức đầu tiên là cách dùng từ khi làm văn hóa và khoa học: Tránh tối đa những râu ria cảm tính khi diễn tả sự việc. Khách quan khoa học không có tôn ti. Kính nể khoa học thể hiện qua các công trình chứ không qua bằng cấp, chức tước. Khi viết, tránh lạm phát với những tư như, đức, ngài, cụ, hắn, tên kia, con nọ…, vì đó không phải là ngôn ngữ khách quan.
Có như thế, may ra trong vài thế hệ nữa, chúng ta sẽ có được những sáng tạo, những sáng tác văn hóa và khoa học đáng trân trọng.
Tháng 5/2015 – Tháng 2.2026.
________
[i] “Lời phát biểu trong buổi ra mắt sách của Roland Jacques: Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam” ngày 12.6.2004.
[ii] “Hoài niệm và phân tích về ngày 30.4.1975 để giải ảo nguỵ sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước”. Web Dân Luận, ngày 7.4.2015.
[iii] Mạc Văn Trang, Mấy Thu Hoạch Từ “Đối Thoại” của Trần Khuê. Trang Tiếng Dân, ngày 02.05.2020.
(Còn tiếp)
No comments:
Post a Comment