Hoa Kỳ, NATO, Liên Hiệp Âu Châu và Eo Biển Hormuz
LS Đào Tăng Dực
03/04/2026
Ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên, TT Trump đã bày tỏ nhiều bất bình với sự đóng góp của những đồng minh của Hoa Kỳ trong những liên minh quân sự từ Âu sang Á. Ông cho rằng Hoa Kỳ đã chi phí quá nhiều để bảo vệ cho các đồng minh và ngược lại sự đóng góp của họ quá ít oi.
Nhất là đối với các quốc gia trong khối NATO tức
Liên Minh Bắc Đại Tây Dương bao gồm Canada, Anh Quốc, Turkey và phần lớn các
quốc gia Tây Âu.
Ông đã nêu ra nhiều lần khả năng Hoa Kỳ rút khỏi
NATO và gần đây nhất, khi Hoa Kỳ và Do Thái oanh tạc Iran, quốc gia này đóng
cữa Eo Biển Hormuz, thì NATO từ chối không tham chiến. Ý định muốn Hoa Kỳ rút
khỏi NATO càng trở nên mãnh liệt hơn.
Dĩ nhiên Hoa Kỳ là một nền dân chủ theo tổng thống
chế và có tam quyền phân lập. Hành pháp, lập pháp và tư pháp đều có giới hạn
hiến định của mình. Khác với các nền dân chủ theo quốc hội chế nơi quan điểm
“tính tối cao của quốc hội” ( parliamentary supremacy) ngự trị.
I.
Câu hỏi đặt
ra là tổng thống Hoa Kỳ, tức hành pháp, có thể rút quốc gia ra khỏi NATO hay
không?
Câu trả lời là không vì vào năm 2023, một sắc luật
được thông qua và trở thành một phần của sắc luật National Defense
Authorization Act 2024 (NDAA) quy định muốn rút cần phải:
1. Hoặc 2/3 Thượng Viện
phê chuẩn
2. Hoặc một sắc luật
riêng của Quốc Hội cho phép
Trong hoàn cảnh chính trị
hiện tại, cả 2 điều kiện này không thực tế.
Tuy nhiên điều này không
có nghĩa là hành pháp hoàn toàn bó tay.
TT Trump có thể không
chính thức rút khỏi NATO nhưng:
-
Không tham dự các phiên
họp
-
Không đóng góp tài chánh
-
Giảm số quân đồn trú tại
Âu Châu
-
Không tham gia vào các kế
hoạch liên hệ đến điều 5 của Hiệp Ước NATO
-
Phủ quyết các kế hoạch
(initiatives) của NATO
Có nghĩa là TT Trump hoàn
toàn vô hiệu hóa vai trò của Hoa Kỳ trong NATO.
Dĩ nhiên hành động này
chỉ có hiệu lực trong phần còn lại của nhiệm kỳ. Vị TT tiếp theo sẽ có sách
lược khác và Hoa Kỳ có thể sẽ phục hoạt vai trò trong NATO trở lại dễ dàng.
Trong một nền dân chủ
theo quốc hội chế, không có tam quyền phân lập, Thủ tướng, qua đảng cầm quyền
nếu nắm đa số trong quốc hội, thông thường sẽ rộng quyền hơn là tổng thống Hoa Kỳ. Chính vì thế, các quốc
gia độc tài cộng sản đều theo quốc hội chế.
II.
Câu hỏi kế tiếp là NATO không có Hoa Kỳ có rã đám
hay bất lực trước LB Nga hay không?
Câu trả lời là không.
Mặc dầu TT LB Nga Putin
sẽ rất vui mừng vì một chiến thắng địa chính trị lớn, nhưng NATO vẫn là một sức
mạnh đáng gờm.
Trước hết, ngay cả nếu
chiếc dù nguyên tử của Hoa Kỳ không còn bảo vệ nữa, thì Anh Quốc và Pháp vẫn là
2 cường quốc nguyên tử của NATO. Mỗi quốc gia có khoảng 300 đầu đạn hạt nhân
trong khi LB Nga có khoảng 6000. Nghe thì cán cân quá chênh lệch nhưng sự thật
thì nhân loại chỉ cần 100 đầu đạn nguyên tử là đã tận diệt rồi. Số lượng còn dư
thừa chỉ có giá trị tâm lý mà thôi.
Thêm vào đó khi so sánh
LB Nga và NATO (trừ Hoa Kỳ) thì dân số Nga là 146 triệu, NATO 600 triệu, GDP LB
Nga là $2 trillions còn NATO là $20 trillions, Chi phí quốc phòng LB Nga là
$146 tỷ còn NATO là $457 tỷ. Trong trường hợp chiến tranh, tiềm năng quân sự
của NATO sẽ vượt trội hơn nữa. Các con số trên dựa vào thống kê 2024. Nhiều
quốc gia Tây Âu đã tăng ngân sách quốc phòng đáng kể sau năm 2024 vì cuộc chiến
tại Ukraine.
LB Nga chỉ có một hàng
không mẫu hạm không khả năng tác chiến, còn Anh Quốc có 2 và Pháp có một. Cả 3
HKMH này đều tối tân và trang bị hiện đại hơn HKMH của Nga.
Nếu xung đột có xảy ra,
dù không có sự tham dự của Hoa Kỳ, NATO vẫn đủ sức đối phó và đánh bại LB Nga.
III.
Tại sao các nước trong NATO từ chối không tham
chiến với Hoa Kỳ tại Iran?
Hầu như các quốc gia
trong khối và các quốc gia Á Châu đều lệ thuộc vào dầu hỏa qua Eo Biển Hormuz
nhiều hơn Hoa Kỳ. Tại sao họ không chịu tham chiến và chỉ hứa sẽ tham gia kiểm
soát sau khi cuộc chiến chấm dứt mà thôi?
Các biện minh họ nêu ra
gồm:
1. Đây
là cuộc chiến của HK và Do Thái mà họ không hề được tham khảo trước.
Biện
minh này không đúng hoàn toàn. Thực sự ngoài Do Thái ra, HK còn bị áp lực từ
chính các quốc Trung Đông khác như Saudi Arabia, UAE, Kuwait .. vì Iran theo hệ
phái Shi’a của Hồi Giáo và họ đa số theo hệ phái Sunni. Hai phái này như nước với
lửa và quyết chiến đến cùng.
2. Họ
có những nhu cầu quốc phòng trước mắt và không đủ khí tài để sử dụng trong một
cuộc chiến quy mô lớn như tại Iran.
Lý
do thật sự hoàn toàn khác:
1. TT
Trump đã quá mạnh tay áp đặt thuế lên cả đồng minh Âu Châu lẫn các đồng minh
khác mà không phân biệt các quốc gia độc tài.Tạo phản cảm trong quần chúng tại
các quốc gia dân chủ này.
2. Các
cường quốc Âu châu đều là những cựu quốc gia thực dân và có lượng di dân rất lớn
từ các cưu thuộc địa. Những di dân này, sau khi có quốc tịch, có quyền bỏ phiếu
trong các cuộc bầu cử dân chủ. Rất nhiều di dân cựu thuộc địa này theo Hồi Giáo
và chống Do Thái.
3. Họ
có chiếc dù nguyên tử của Anh và Pháp. Pháp đang dự tính phát triển lượng bom
nguyên tử và đưa sang các quốc gia khác, nhất là Đức để xây dựng một hàng rào
nguyên tử cho Âu Châu. Đức dự tính khai triển các chiến đấu cơ có khả năng sử dụng
bom nguyên tử của Pháp. Anh Quốc còn triển khai thêm lực lượng tàu ngầm nguyên
tử tại Bắc Âu ngay ngưỡng cữa của LB Nga.
4. Trong
tương lai, các quốc gia lớn và tuyến đầu như Đức và Ba Lan có khả năng phát triển
vũ khí nguyên tử cho chính mình nữa và họ có đủ trình độ khoa học kỹ thuật để
nhanh chóng thực hiện.
IV.
Âu
Châu và các quốc gia khác có bó tay trước tình trạng Eo Biển Hormuz hay không?
Tuy
nhiên các quốc gia Tây Âu vẫn bị áp lực từ một số quần chúng ủng hộ cho cuộc
chiến hoặc muốn chính phủ can thiệp để mở cữa Eo Biển Hormuz hầu cứu vãn nền
kinh tế.
Thêm
vào đó họ vẫn muốn chứng tỏ với TT Trump rằng, tuy không trực tiếp tham chiến,
nhưng họ vẫn cố gắng đóng góp tích cực vào tiến trình mở cữa Eo Biển này. Dù
sao Trump cũng là TT của Hoa Kỳ, siêu cường vô đối của thế giới.
Chính
vì thế ngày 2 tháng 4 vừa qua, Anh Quốc tổ chức họp cấp ngoại trưởng các quốc
gia trên thế giới. Mục đích là chứng minh rằng họ vẫn chống Iran nhưng muốn giải
quyết vấn đề Eo Biển Hormuz một cách ôn hòa, tránh bạo lực, mà không loại trừ
khả năng can thiệp quân sự như biện pháp cuối cùng.
Các
quốc tham dự gồm khoảng 35- 40 nước gồm Anh, Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan, các quốc
gia Bắc Âu và các quốc gia Baltic (Âu Châu); Nhật, Úc, Nam Hàn, Ấn (Á Châu Thái
Bình Dương); UAE, Bahrain, Panama, Nigeria (Trung Đông và vùng Vịnh); Canada (Bắc
Mỹ); Hoa Kỳ không tham dự.
Các
quốc gia này dự tính có kế hoạch giải quyết khủng hoảng này bằng những phương
tiện ngoại giao, kinh tế, chính trị kể luôn cả quân sự khi cần thiết.
Cho
đến bây giờ thì qua những thương thuyết và tiếp xúc riêng, Iran đã cho phép một
tàu bè số quốc gia “không thù nghịch” như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Oman, Nhật
Bản và Pháp được quyền đi qua eo biển này. Có thể đây là một chiến thuật của
Iran nhằm chia rẽ các đồng minh của Hoa Kỳ.
Hà
Nội đã tiếp xúc và yêu cầu Iran cho phép. Iran đang duyệt xét yêu cầu này.
Dĩ
nhiên tình hình có thể biến chuyển trong tương lai.
No comments:
Post a Comment