Thursday, April 30, 2026

VNTB – Lộc Vàng – Bị bỏ tù vì hát tình ca
30.04.2026 3:15
VNThoibao


(VNTB) – Nguyễn Văn Lộc bị đàn áp vì trình diễn những bản nhạc lãng mạn của Hà Nội nhưng ông không thể dừng lại, và ông sẽ không dừng lại


Năm mươi tám năm trước, ông đã vào tù vì hát tình ca trong thời chiến.

Vào một đêm thứ Tư gần đây tại căn phòng phía sau của một ngôi nhà giản dị ở Hà Nội được biến thành câu lạc bộ âm nhạc, Nguyễn Văn Lộc đã trở lại với những bài hát đó, mỉm cười, mặc đồ trắng, gõ nhẹ micro để thu hút sự chú ý của khoảng một tá bạn bè đang uống trà gừng.

“Xin chào quý vị,”

Đệm bằng đàn guitar, bản ballad mở đầu của ông vang vọng qua loa được thiết kế cho một không gian lớn hơn. Những bức ảnh đen trắng của các nhạc sĩ yêu thích của ông bao phủ các bức tường ốp gỗ. Những chiếc đèn thủy tinh màu, treo ngược như những bông hoa đang khô, làm sáng sân khấu được tô điểm bằng những cụm từ vàng.

“Tìm Lại Kỷ Niệm Xưa.”

“Nhớ Về Một Thời Đã Qua.”

Ông Lộc, 81 tuổi, là ca sĩ cuối cùng và kiên định nhất của Việt Nam hát thể loại nhạc cảm xúc sâu sắc đã định hình Hà Nội trước và ngay sau khi đất nước chia cắt vào năm 1954. Với nỗi buồn man mác mà ông so sánh với những cơn gió nhẹ lướt qua cánh đồng lúa, đây là những bài hát của các nghệ sĩ Việt Nam (bao gồm nhiều người bạn quá cố của ông) lấy cảm hứng từ di sản âm nhạc cả phương Đông và phương Tây. Và giống như câu chuyện cuộc đời mình, chúng mang theo những đợt sóng hoài niệm, đau đớn, khao khát và những bài học về những kết nối bị mất đi khi xã hội chia rẽ và các nhà lãnh đạo yêu cầu sự tuân phục về văn hóa.

Các nhà âm nhạc học đã gọi thể loại này là thơ ca Việt Nam nhịp điệu chậm, được truyền tải bằng những giai điệu được chuyển thể từ những nơi như Paris, Detroit, Honolulu và Havana. Theo quan điểm của ông Lộc, âm nhạc này xứng đáng được ca ngợi vì tính sáng tạo phi chính trị và chiều sâu cảm xúc của nó.

Ông Lộc, một người đàn ông nhỏ gọn với đôi mắt sắc sảo trở nên dịu dàng khi hát, nói: “Đó là về con người và tình yêu, tình yêu nam nữ, tình yêu quê hương, yêu nông thôn. Tôi chỉ yêu thứ âm nhạc lãng mạn đó với sức mạnh tình yêu mượt mà như lụa.”

Trong Chiến tranh Việt Nam, chính quyền Cộng sản Bắc Việt Nam lo sợ rằng thứ âm nhạc như vậy sẽ khiến người ta xao nhãng. Họ dán nhãn bất kỳ thể loại nhạc nào không mang tính cách mạng là Nhạc vàng, mượn một thuật ngữ Trung Quốc dùng cho những bài hát tình yêu của Thượng Hải những năm 1930. Khi chiến tranh leo thang, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã cố gắng xóa sổ dòng nhạc này.

Jason Gibbs, một nhà nghiên cứu lâu năm về ca khúc phổ thông Việt Nam, cho biết: “Có lời đồn đại trên phố. Nếu tiếp tục làm điều này, bạn sẽ gặp rắc rối.”

Ông Lộc chỉ đơn giản là lui vào bóng tối hơn nữa.

Ông kể: “Mỗi đêm, chúng tôi tụ tập quanh ấm trà, hút vài điếu thuốc, và hát cho nhau nghe trong một nhóm nhỏ.”

Rồi công an đến.

Sinh ra trong một gia đình trung lưu vào năm 1945 tại Hà Nội, với người cha từng làm nghề xây dựng cho người Pháp, kẻ cai trị thực dân của Việt Nam, ông Lộc đã phải lòng âm nhạc trước chiến tranh từ khi còn là một cậu bé.

Gia đình ông dần mất đi sự ưu ái khi Cộng sản lên nắm quyền. Ông nghỉ học sau lớp bảy để đi làm.

Âm nhạc đã giữ vòng tròn xã hội Hà Nội của ông lại với nhau, trong một thời gian. Đến giữa những năm 1960, những nhà cách mạng Việt Nam bắt đầu đàn áp ngay cả các buổi hòa nhạc tại nhà.

Họ đã bắt giữ ông Lộc vào tháng 3 năm 1968. Đó là hai tháng sau khi Cuộc tấn công Tết Mậu Thân thất bại trong việc mang lại chiến thắng quyết định mong muốn cho miền Bắc, mặc dù có các cuộc tấn công bất ngờ phối hợp vào các thành phố lớn và các căn cứ quân sự của Mỹ. Ông và hai người bạn cùng ban nhạc, cùng với một vài nhạc sĩ khác (bao gồm cả một ca sĩ đám cưới), đã bị thẩm vấn rồi bị giam giữ.

Các báo cáo truyền thông nhà nước thời bấy giờ cho thấy họ đã vi phạm một luật mới được công bố chỉ sau khi họ bị bắt, kiên quyết áp dụng các án tù dài cho các tội danh như “tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch,” và khuyến khích “văn hóa đồi trụy của đế quốc”.

Ông Lộc, khi nói chuyện vào giữa tháng 3 bên chén trà xanh trong căn nhà nhỏ trong ngõ hẻm của mình, mô tả vụ án là một trò hề.

Ông nói: “Họ không có bằng chứng. Tất cả những gì họ có chỉ là tin đồn.”

Các nhạc sĩ bị đưa đến nhà tù Hỏa Lò, một trung tâm giam giữ khét tiếng mà lính Mỹ đặt biệt danh là “Khách sạn Hilton Hà Nội”. Sáu tháng sau, chính quyền yêu cầu họ biểu diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội, để các nhà soạn nhạc “đỏ,” hay nhạc cách mạng, được chính phủ phê chuẩn có thể tìm hiểu điều gì đã khiến nhạc vàng trở nên phổ biến đến vậy.

Nhóm đã trình diễn khoảng 10 bài hát, được chính quyền ghi âm lại cẩn thận.

Ông Lộc nói: “Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã đúng về âm nhạc, bởi vì giờ họ muốn nghe nó. Chúng tôi đã rất vui.”

Họ nghĩ rằng họ sắp được thả.

Sau ba năm nữa trong tù — tại phiên tòa xét xử vào năm 1971 — các bản ghi âm đã trở thành bằng chứng.

Ông Lộc kể rằng công tố viên đã bật những bài hát của họ với âm lượng nhỏ và tốc độ bị bóp méo, sau đó bật nhạc tuyên truyền thật lớn thông qua hệ thống âm thanh chất lượng cao, để cho thấy tại sao nhạc vàng yếu kém và các bài hát xã hội chủ nghĩa lại mạnh mẽ.

Ông nói: “Tôi có thể cảm thấy nhiệt độ tăng lên, trong tai và mặt mình, bởi vì họ quá dối trá. Họ gài bẫy chúng tôi. Họ lừa chúng tôi. Tôi cảm thấy  sự căm ghét cùng tận.”

Ông rót thêm trà. Một bức chân dung khắc gỗ của Nguyễn Văn Cao, một nhà thơ, họa sĩ và nhà soạn nhạc, người đã viết quốc ca Việt Nam vào năm 1944 và bị đưa vào danh sách đen sau khi tìm kiếm tự do biểu đạt vào những năm 50, được treo trên tường.

Ông Lộc nói với chúng tôi: “Tôi nhận bản án dài nhất. Mười năm vì tòa án nói rằng các nhạc sĩ chỉ chơi nhạc, còn tôi đã cất tiếng hát.”***

Các cai ngục gọi ông là kẻ cứng đầu. Tại các trại lao động sâu trong rừng, họ bảo tù nhân hát nhạc cách mạng để đổi lấy công việc nhẹ hơn và thức ăn tốt hơn. Một số người đồng ý. Ông Lộc vẫn tiếp tục khuân gạch và ăn cháo.

Ông nói: “Tôi không bao giờ có thể hát thứ âm nhạc đó, những bài hát khuyến khích mọi người đi giết chóc. Âm nhạc đó đơn giản là không thể nào dính vào đầu tôi.”

Khi không có ai xung quanh, ông hát để giữ lấy sự tỉnh táo của mình. Ông dùng tay đào một cái hố dưới đất và trút những bài hát mình yêu thương vào lòng đất, cất lên tiếng hát một cách bí mật và chốc lát. Sau đó, ông lại lấp đất lại.

Sau Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973 làm giảm bớt giao tranh với Hoa Kỳ, bản án của ông Lộc đã được giảm. Ông được trả tự do vào ngày 27 tháng 3 năm 1976, sau khi trải qua tám năm là tù nhân chính trị.

Âm nhạc tiếp tục định hình cuộc đời ông. Ông giữ bộ ria mép và mái tóc hoàn hảo, luôn sẵn sàng cho một buổi biểu diễn ngẫu hứng. Ông kết hôn với một người phụ nữ đã nghe ông hát vào đầu những năm 1960, và họ có hai con.

Con trai họ, Nguyễn Quốc Linh, 44 tuổi, một nhạc sĩ jazz và giáo viên, cho biết hệ thống âm thanh tại nhà của gia đình, với băng cối và loa cao, cảm giác như một người thân bổ sung, luôn hiện diện và cất tiếng. Một trong những ký ức đầu tiên của anh: đối diện với loa, lạc mình trong âm nhạc, và vô tình tè dầm.

Anh nói: “Tôi đã thoát được vì tôi còn quá nhỏ.”

Vào cuối những năm 1980, sự tự do hóa kinh tế của Việt Nam đã mở ra thêm một chút không gian cho sự biểu đạt, và nhạc vàng đã có một đời sống riêng trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Nhưng ông Lộc vẫn không thể biểu diễn tự do.

Ông cố gắng hát ở các quán bar, nhưng công an từ chối cấp phép. Ông tự mở một quán cà phê vào giữa những năm 1990, nhưng lại bị công an bảo sẽ bắt ông nếu ông hát ở đó.

Cuối cùng, vào năm 2008, ông mở một quán cà phê nơi ông có thể lên sân khấu. Ông đã nói với chính quyền vào năm 1971 rằng ông luôn muốn thúc đẩy sự phát triển âm nhạc với phần còn lại của thế giới. Thay vào đó, ông trở thành một người bảo tồn những bài hát từ tuổi trẻ của mình, mở hết quán cà phê này đến quán cà phê khác. Mỗi quán đều đóng cửa. Quán cuối cùng của ông không thể vượt qua đại dịch.

Trong quá trình đó, dòng nhạc ông yêu thích đã trải qua một sự hồi sinh nhẹ nhàng. Năm 2017, một nhóm văn hóa đã mời ông Lộc trở lại Nhà hát Lớn Hà Nội để tham gia một buổi hòa nhạc tôn vinh nhạc vàng.

Được con trai đệm guitar, ông đã hát hai bài hát từng được dùng để buộc tội ông. Sau đó ông kể cho con trai nghe về lần xuất hiện năm 1968 của mình, và tại sao việc trở lại lại khiến ông rơi nước mắt.

Ông Lộc nói: “Đối với tôi, đó là một chút trả thù cá nhân — để đòi lại lòng tự trọng của mình.”***

Tại nhà bạn mình ở Hà Nội vào tháng trước, ông Lộc hát vài bài một lúc, luân phiên với các nghệ sĩ khác. Ông đi lại trong phòng như một vị trưởng tộc đáng kính trong đám cưới gia đình.

Có lúc, giữa các tiết mục, ông vẫy tay chào một người hâm mộ bị kẹt ở Dubai đang tham gia qua cuộc gọi video vì chiến tranh Mỹ-Israel với Iran.

Nhiều người xem những buổi biểu diễn điều đặn như vậy là một chiến thắng — diễn ra hàng tuần, mà không có sự can thiệp của công an.

Nhưng đối với ông Lộc, nỗi buồn vẫn còn đọng lại. Ông nói, công lý có nghĩa là một lời xin lỗi từ chính phủ — về những năm tháng trong tù và sự quấy rối sau đó. Năm 2017, ông được mời hát tại một phòng trà ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng khi một đám đông lớn xuất hiện, công an đã từ chối cho ông biểu diễn và rút micrô của ông khi ông cố gắng nói chuyện.

Ông nói, đó là một dấu hiệu cho thấy Việt Nam giả vờ cởi mở hơn so với thực tế.

Nhưng âm nhạc vẫn tồn tại. Khi buổi biểu diễn của ông kéo dài, giọng hát của ông càng mạnh mẽ hơn. Say đắm (đó là cách ông mô tả việc biểu diễn), ông nhắm mắt lại ở mỗi đoạn cao trào, giọng hát của ông truyền tải những lời ca sẽ đau đớn hơn nếu các nốt nhạc không nghe quá ngọt ngào.

Ông hát: “Lòng tôi biết rằng yêu là, một ngày, phải chịu đựng. Thế mà sao tôi cứ yêu, cứ nhớ hoài?”

 

https://www.nytimes.com/2026/04/12/world/asia/vietnam-singer-prisoner.html

No comments:

Post a Comment