“Trí thức” là gì? Ai là trí thức? (Phần 2)Phạm Hồng Lam
30-4-2026
Tiengdan
Tiếp theo phần 1
“Trí thức” trong quan niệm của J.P. Sartre
Như đã nói, nước Pháp là nơi đẻ ra “Trí thức”, và trong cuộc tranh luận dai dẳng về từ ngữ này, người Pháp đã không nản chí như người Đức và đã không mất trí như Đức quốc xã và Cộng sản trong nỗ lực kiếm tìm nội dung cho khái niệm này.
Một người Pháp được biết nhiều trong nỗ lực này là triết gia Jean Paul Sartre. Sartre bảo, “Trí thức” là “sản phẩm quái gỡ của những xã hội quái lạ” (monstrueux produit des sociétés monstrueuses). Như vậy theo ông, “Trí thức” là những Quái vật (monstres), vì họ chẳng giống ai. “Trí thức” có thể xuất hiện tùy vào hoàn cảnh đặc thù của từng xã hội. Họ là con đẻ của từng xã hội, nhưng không nhất thiết là sản phẩm của xã hội đó. Tại sao?
Vì họ vừa là một thành phần của “quần chúng nhân dân”, nhưng đồng thời lại không là quần chúng nhân dân; họ có thể xuất thân từ đám “đại gia” nhưng đồng thời tách khỏi đám đại gia (thất đức). Họ là thành phần ngô chẳng ra ngô, khoai chẳng ra khoai. Không ai yêu cầu hay ép họ ra nông nỗi như thế. Mà tự họ muốn thế, họ tự cảm thấy bị thôi thúc làm quái vật.
Như vậy, quái vật, trước hết, trong hai tính cách: “Trí thức” là một người của quần chúng, ở giữa quần chúng, nhưng lại không giống quần chúng, vượt ra khỏi quần chúng. Thứ đến, “Trí thức” là quái vật, vì chẳng ai hiểu được họ: Trong lúc họ làm những điều mà họ cho là phải làm, thì chồng, vợ, con, đồng nghiệp lại chửi họ là thứ “ăn cơm nhà vác ngà voi”, thứ làm “chuyện ruồi bu”, là “những tên ngu” tự chuốc họa vào thân!
Song nếu gặp vận thang mây, những quái vật kia sẽ được phong thánh, trở thành những quái vật thánh (Sartre: monstres sacrés), không ai còn dám đụng đến, như kiểu tổng thống De Gaulle đã trả lời, khi cơ quan an ninh xin phép bắt tên triết gia chuyên khuấy rối: Không thể bắt một người như Sartre được! Họ có thể lại được giải Nobel, như ông Lưu Hiểu Ba vừa rồi, để may ra thóat tù, thóat chết. (Trước đây Sartre cũng được trao giải, nhưng ông đã không nhận, với lập luận rằng, nếu nhận, ông sẽ được/ bị đưa vào ngồi chiếu trên, không còn được ngồi bệt xuống đất với quần chúng nữa).
Trái lại, nếu không may, những quái vật đó sẽ bị bịt miệng, bị “quần chúng tự phát” đánh gẫy xương, vỡ đầu hay bị tù vì tội “lợi dụng dân chủ”, “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” hoặc kẹt quá thì “tội trốn thuế”, thậm chí có khi tự dưng rơi từ lầu cao xuống đầu, để về gặp các bác Mác, Lê, Mao…
Đó là vài điểm khác người của “Trí thức”. Nhưng “Trí thức” từ đâu ra và khi nào thì được gọi là “Trí thức”?
Để trả lời, trước hết phải hiểu Sartre quan niệm về con người. Có thể tóm tắt tư tưởng của ông như sau: Con người là một “dự án” (projet) sáng tạo, luôn hướng tới một cái gì còn trong tương lai, chưa có. Nhờ qua nỗ lực luôn vươn tới này, mà con người mới trở thành người.
Chẳng hạn: Người thợ luôn tìm cách để làm sao có được mức lương cao hơn; nông dân cố gắng lam lũ để tương lai đỡ cực; người làm khoa học luôn đi tìm những khám phá mới; người dân trong một chính quyền áp bức luôn tìm cách để có được tự do… Mà muốn đạt được cái chưa có đó, con người phải có khả năng vượt ra khỏi tình trạng hiện tại, để dùng đầu óc đưa mình hướng tới những mục tiêu nhắm tới. Và, dưới ánh sáng của cái mục tiêu nhắm tới đó, họ “phủ định” hiện tại (không thể sống mãi như thế này được!), họ đánh giá hiện tại (một xã hội bóc lột!), đồng thời nghĩ ra phương cách làm sao để thóat ra tình trạng đó.
Theo Sartre, con người làm việc này (phủ định, đánh giá, tìm phương cách giải quyết) trong suốt mọi giây phút cuộc đời mình, không ngưng nghỉ. Hành động liên tục phản kháng hiện tại và tìm cách đạt tới cái chưa có đó là minh chứng cụ thể nhất cho sự hiện hữu của con người. Ông nói: “Cách học hỏi duy nhất là thắc mắc, là đặt lại vấn đề. Đó cũng là cách duy nhất để người trở thành người”.
Trên nguyên tắc, theo Sartre, bất luận ai, mọi người đều có khả năng nghi ngờ thực tại và tự đặt vấn đề để đi tới. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng nghĩ ra được phương cách để giúp mình thực hiện ước vọng. Ở đây, sự phân công xã hội đã tạo ra một nhóm người có khả năng nhìn ra được những phương cách để đạt mục tiêu, đó là thành phần mà ông gọi là những “Kỹ thuật gia về kiến thức thực tế”, mà nay ta có thể nói là thành phần tốt nghiệp đại học, gồm các kỹ sư, các nhà khoa học, bác sĩ, luật sư, nhà giáo…
Cứ theo lập luận của Sartre thì sự phân công xã hội đã tạo ra ba hạng người: thành phần lãnh đạo, tầng lớp kỹ thuật gia và công nhân. Thành phần lãnh đạo đặt ra mục tiêu (chẳng hạn cần điện nguyên tử), các kỹ thuật gia nghĩ ra các kế hoạch xây dựng nhà máy và tầng lớp công nhân thực hiện các kế hoạch đó.
Theo Sartre, “Trí thức” chỉ xuất thân từ thành phần kỹ thuật gia. Ở điểm này, lý luận của Sartre hơi mâu thuẫn. Một mặt ông bảo “Trí thức” xuất thân từ thành phần kỹ thuật gia – là thành phần có học, nhưng mặt khác, ông vẫn giữ quan điểm là ai ai cũng có thể trở thành “Trí thức”. Nhưng, vẫn theo ông, kỹ thuật gia chưa hẳn là “Trí thức”. “Trí thức” chỉ xuất hiện, khi nhà kỹ thuật ý thức được những mâu thuẫn (xã hội) và dám đứng dậy đặt vấn đề để thóat ra khỏi tình trạng mâu thuẫn đó, chứ không nhắm mắt làm ngơ, chấp nhận thỏa hiệp hay nín thở qua sông.
Như vậy, theo Sartre, “Trí thức” là những tác nhân chính tạo biến chuyển, đưa xã hội và nhân quần đi tới; vai trò của họ là “chỉ ra, chứng minh, lột mặt nạ và dùng chất cường toan phê phán phá đổ đi những huyền thoại lẫn linh vật”.
Tóm lại, định nghĩa của Sartre: “Trí thức” là một số đông người nhờ công việc tri thức của mình mà đạt được một sự nổi tiếng nào đó, và họ đã lạm dụng sự nổi tiếng này để bước ra khỏi lãnh vực chuyên môn của mình để phê phán xã hội và trật tự hiện tại vốn được tạo ra nhân danh một nhân sinh quan mang tính toàn cầu và giáo điều”.
(Ở đây chỉ bàn tới lý luận của Sartre về “Trí thức”, không bàn đến con người với một số hành vi phản “Trí thức” cụ thể của Sartre).
Đi tìm một nội dung thích hợp: “Trí thức” là người đấu tranh bảo vệ nhân phẩm
Sartre vừa đưa ra mẫu “Trí thức” (tạo biến chuyển xã hội) như thế thì, đùng một cái, xẩy ra biến cố 1968 ở Pháp. Và biến cố này đã làm đảo lộn nhận thức của ông. Cuộc biến động 68 tại Pháp như cơn sóng thần làm thay đổi tận căn xã hội Pháp trên nhiều lãnh vực, nhưng biến động đó lại không do một ông bà được gọi là “Trí thức” (nhà văn, nhà thơ, triết gia, khoa học gia…) nào tạo ra cả. Mà chủ yếu là do đám đông sinh viên, học sinh biểu tình trên đường phố đưa tới!
Sartre hiểu ra, không thể có loại “Trí thức cũ”, nghĩa là không thể có được hạng người thông suốt được mọi mặt của xã hội và cuộc sống, để từ đó phê phán, đưa ra lời giải đúng đắn cho mọi vấn đề. Vì thế, giờ đây ông nói tới một loại “Trí thức mới”. Theo ông, đây là những chuyên viên, những người có thẩm quyền trong những lãnh vực chuyên môn. Xã hội hiện đại và hậu hiện đại ngày nay càng ngày càng chuyên môn hóa rất cao, không thể có được loại người thông biết mọi chuyện được. Mà đã là chuyên viên thì không thể ai ai cũng là “Trí thức” được.
Một thay đổi nữa nơi Sartre do ảnh hưởng biến cố 68 là quan niệm “Trí thức” phải gần dân, luôn phải trong dân, theo dân. “Trí thức cũ” có thể gần dân hoặc xa dân, có thể ngồi trong tháp ngà mà lên tiếng. Nhưng “Trí thức mới” thì phải dứt khóat đội nón xuống đường cùng với dân oan đòi lại đất đai nhà cửa, cùng với sinh viên hô lên “Hoàng sa Trường Sa là của Việt Nam!”
Hẳn nhiên, cả hai quan niệm “Trí thức cũ” và “mới” của Sartre đều bất cập. Không thể có một hạng người có tri thức toàn diện, mà cũng chẳng có hạng “Trí thức” luôn phải ở trong dân, luôn phải bám sát theo dân thì mới có thể đạt đích được.
Nhưng, dựa trên quan điểm của Sartre và quan điểm chung, có ba yếu tố nổi bật nơi người “Trí thức”: Tri thức (Connaissance/Wissen), đức hạnh (Vertu/Tugend) và sự dấn thân (Engagement).
Tri thức (Tài) trước đây gần như chỉ có được thông qua trường lớp. Nó dính dáng nhiều với tầng lớp xuất thân đại học và khoa bảng, nhưng hẳn nhiên không chỉ hạn chế trong hạng người đó. Xã hội hậu hiện đại hiện nay với cuộc cách mạng truyền thông và sự phổ cập nền giáo dục đang dần dần lấy đi nền tảng bằng cấp của lớp người học thức cổ điển.
Trước đây chỉ có thứ truyền thông chữ viết, nên các cuộc tranh luận chỉ giới hạn trong một thành phần ưu tuyển và có học nào đó, và xem ra chỉ có giới học cao hiểu rộng mới là tác nhân tạo ra những thay đổi xã hội qua việc lên tiếng phản bác thực tại và mở lối tương lai. Nay tác nhân tạo chuyển động xã hội có thể là các tổ chức xã hội dân sự (Nhân quyền quốc tế, Tổ chức Xanh…) hoặc màn ảnh truyền hình, đặc biệt mạng lưới vi tính (Internet, social media).
Chữ viết chuyển sang hình ảnh. Độc quyền của một nhóm chuyển sang tập thể mọi giới. Chỉ cần tung lên tấm ảnh một linh mục bị bịt miệng khiến cả một chế độ chùn tay. Hình ảnh em bé tị nạn người Syria trôi dạt vào bờ biển trên mạng xã hội, đủ làm cả thế giới rúng động. Chỉ cần một nhấn nút trên Facebook là hàng ngàn sinh viên, học sinh Iran xuống đường chống lại gian lận bầu cử.
Sự phổ thông hóa nền giáo dục đại học làm cho yếu tố bằng cấp nơi “Trí thức” càng thêm mờ nhạt. Kiến thức ngày nay không còn là độc quyền của trường ốc nữa. Internet cũng có thể cung cấp cho một người những kiến thức tổng quát và chuyên môn không thua gì nơi đại học. Do đó, giới hàn lâm hiện nay có khuynh hướng nhấn mạnh tới đức hạnh và sự dấn thân, không còn chú ý nhiều tới tri thức. Nhưng dấn thân vì lý do gì và ở lãnh vực nào, thì lại là chuyện không đơn giản.
Ở Đức, người ta nói đến hai mẫu “Trí thức”: Lý Thuyết (Theoretiker) và Đức Hạnh (Tugend). Người Lý Thuyết nhìn thấy sự kiện; người Đức Hạnh nhìn thấy con người. Qua vụ Mỹ đánh Iran chẳng hạn, “Trí thức” lý thuyết thấy: Một cuộc chiến không cân sức, tàn bạo và phá hoại, chống lại một bạo quyền, thấy luật quốc tế bị coi thường; “Trí thức” đức hạnh trái lại thấy: Cảnh tang thương chết chóc của những người dân Iran vô tội, họ bị mất thân nhân, nhà cửa, tài sản…
Làm sao để nối hai cái nhìn đó lại? Làm sao để có được một lý do và lãnh vực dấn thân phổ quát mà không sợ sai, sợ lầm do ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, thời đại hay ý thức hệ?
Và suy tư đã đưa người ta đến niềm tin vào khái niệm Nhân Phẩm.
Theo đó, người Trí Thức, bất luận với tên gọi nào, là kẻ sẵn sàng bất chấp nguy hiểm bản thân, dám dấn thân lên tiếng, khi thấy phẩm giá con người – bất luận hạng người nào – bị xúc phạm, chà đạp, khinh miệt. Bởi vì chung quy lại, mọi chế độ chính trị chân chính, mọi luật pháp đúng đắn, mọi tôn giáo chân thật, kỳ cùng ra, đều hướng tới một mục tiêu bản lề: Bảo vệ và phát huy nhân phẩm, giúp thăng hoa con người.
Như vậy, chúng ta có thể tạm định nghĩa Trí Thức với những yếu tố cấu thành như sau:
Trí Thức là người:
1) có được một sự nổi tiếng nào đó qua sinh hoạt tri thức của mình;
2) nhờ sự nổi tiếng này họ sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm bản thân, lên tiếng phê bình, phản kháng lại thực tại mâu thuẫn xã hội đương thời;
3) nhưng tiếng nói của họ phải vượt lên trên ảnh hưởng phe đảng chính trị, cũng như vượt lên trên tầm nhìn hạn chế của một chuyên viên, và
5) luôn với một mục tiêu rõ rệt trước mắt: Đấu tranh cho phẩm giá con người.
_______
Tham khảo:
– Károly Méhes, Die Intellektuellen und Europa – ein intelligentes Europa.
– Dietz Bering, “Intellektueller”: Schimpfwort – Diskursbegriff – Grabmal?
– Barbara Winken, Die Intellektuelle: gestern, heute, morgen.
– Dorothea Wildenburg, Sartres “heilige Monster”.
Tất cả đăng trong Aus Politik und Zeitgeschichte, số 40/2010. Các trích dẫn đều từ các tài liệu thượng dẫn.
No comments:
Post a Comment