VNTB – Bốn Năm Chiến Tranh Ở Châu Âu (kỳ cuối)Trung Điền lược dịch
24.02.2026 5:26
VNThoibao
Loạt bài gồm 8 bài viết của 8 chuyên gia thời sự quốc tế do Tạp chí Foreign Policy thực hiện nhân đánh dấu 4 năm cuộc chiến Ukraine (24/2/2022 – 24/2/2026).
***
Theo mọi tiêu chuẩn hợp lý, cuộc xâm lược Ukraine của Tổng thống Nga Vladimir Putin là một thất bại chiến lược lớn. Sau bốn năm và với cái giá hơn 1 triệu thương vong Nga, Moscow chỉ kiểm soát chưa đến 20% lãnh thổ Ukraine, trong đó 7% đã chiếm từ năm 2014 khi Nga sáp nhập Crimea và Donbas phía đông.
Nhưng Putin không có tâm thế thừa nhận thất bại hay chấp nhận ngừng bắn. Ông đặt cược rằng quân đội mình sẽ thành công ở nơi đã thất bại; rằng chính quyền Trump sẽ gây sức ép buộc Kyiv chấp nhận yêu sách cốt lõi của Nga; và rằng châu Âu sẽ mệt mỏi với chiến tranh và ngừng hỗ trợ Ukraine.
Hiện tại, không có con đường nào trong ba con đường đó có vẻ khả thi. Phần lớn người châu Âu đã nhận ra rằng cuộc chiến tự vệ của Ukraine cũng là cuộc chiến của chính châu Âu. Nếu Putin chinh phục được Ukraine, ông có thể bị cám dỗ tiếp tục nhằm phá vỡ toàn bộ cấu trúc an ninh châu Âu. Nhưng nếu Ukraine tồn tại như một quốc gia độc lập và có chủ quyền, các lựa chọn chiến lược của ông sẽ bị thu hẹp đáng kể.
Trong năm đầu chiến tranh, có lo ngại rằng hỗ trợ của châu Âu sẽ dần suy giảm, rằng một số quốc gia then chốt có thể tìm cách hòa giải với Moscow và Ukraine sẽ bị bỏ rơi. Nhưng điều đó không xảy ra. Các nước châu Âu – dưới nhiều cấu hình khác nhau như Liên Minh Châu Âu, liên minh Bắc Âu–Baltic–Ukraine, hay “liên minh những nước sẵn sàng,” không chỉ duy trì hỗ trợ tài chính và quân sự quy mô lớn mà còn phần lớn thay thế viện trợ Mỹ kể từ khi chính quyền Trump thứ hai bắt đầu.
Các khoản vay và viện trợ từ các thể chế EU chiếm gần 90% dòng tài chính và nhân đạo năm 2025. Một số nước châu Âu, đặc biệt là Đức, Anh và các nước Bắc Âu đã chiếm khoảng 95% viện trợ quân sự trong năm 2025. Một thỏa thuận vay 90 tỷ Euro gần đây của EU, cùng các nguồn khác, về cơ bản bảo đảm tài chính cho chính phủ Ukraine đến năm 2026 và 2027.
Bất chấp mọi nghi ngờ bốn năm trước, châu Âu đã bước lên. Việc châu Âu cam kết cho an ninh tương lai của Ukraine sẽ có nhiều hình thức khác nhau. Một số lực lượng sẽ hiện diện tại Ukraine, cùng với hỗ trợ tài chính và các biện pháp tăng cường năng lực phòng thủ. Dù có nhiều tranh luận về việc bảo đảm an ninh từ Mỹ và châu Âu, nguồn bảo đảm quan trọng nhất vẫn là khả năng tự phòng vệ của Ukraine, trong đó, nguồn hỗ trợ của châu Âu sẽ đặc biệt then chốt.
Không ai có thể dự đoán khi nào tiếng súng sẽ ngừng nổ. Những thỏa thuận, dù có thể chỉ tạm thời giữa Nga và Ukraine. Hay Điện Cẩm Linh có thể thử một cuộc tấn công lớn khác trong năm nay, và rồi sẽ thất bại như trong các năm năm 2024 và 2025. Nhưng đến một thời điểm nào đó, Putin sẽ phải thừa nhận rằng tiếp tục chiến tranh không mang lại điều gì ngoài việc làm suy yếu thêm nước Nga.
Ban đầu, Donald Trump tìm cách đạt được một lệnh ngừng bắn. Nhưng trong các cuộc gặp riêng với Putin tại Anchorage, Alaska, ông đã để phía Nga xoay chuyển lập trường của Washington. Kể từ đó, chính quyền Trump gây sức ép buộc Ukraine chấp nhận các yêu sách về lãnh thổ của Điện Cẩm Linh. Vì vậy, yếu tố thiết yếu cho an ninh châu Âu chính là sự ủng hộ của châu Âu đối với Ukraine, cả trong thời chiến lẫn sau đó, khi đất nước này cần được ổn định và tái thiết. Một nền hòa bình thực sự chỉ có thể đến khi Vladimir Putin rời Điện Cẩm Linh và Ukraine gia nhập Liên Minh Châu Âu.
***
Dù thế giới tập trung nhiều vào sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ lễ nhậm chức nhiệm kỳ hai của Donald Trump vào tháng 1 năm 2025, nhưng những tác động địa chính trị của cuộc chiến Nga–Ukraine vẫn không hề thay đổi. Người tiền nhiệm của ông, Joe Biden, đã tìm cách liên kết các đồng minh Mỹ trong một “mạng lưới chằng chịt” gồm các liên minh và quan hệ đối tác chồng lấn nhằm đối phó với thách thức từ Nga ở châu Âu và Trung Quốc ở châu Á. Ông kêu gọi châu Á quan tâm nhiều hơn đến an ninh châu Âu và yêu cầu NATO tăng cường hiện diện tại Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương.
Trump dường như không mặn mà với một liên minh đại lục Á–Âu rộng lớn. Thay vào đó, ông yêu cầu các đồng minh tự chịu trách nhiệm về an ninh của mình, trong bối cảnh Washington chuyển trọng tâm về Tây Bán cầu. Điều đó lại dẫn đến một yêu cầu tương tự: Các đồng minh Mỹ ở châu Âu và châu Á phải hợp tác với nhau nhiều hơn.
Nỗi lo bị Mỹ bỏ rơi đang thúc đẩy các đồng minh và đối tác phải tăng cường năng lực quốc phòng và tìm kiếm hợp tác sâu rộng hơn, dù có hay không có Washington đứng ra điều phối “dàn nhạc Á–Âu.” Theo cách riêng của mình, cả Biden lẫn Trump đều đã thúc đẩy sự hình thành một không gian địa chính trị Á–Âu ngày càng liên kết chặt chẽ.
Trong thời Biden, các đồng minh châu Á của Mỹ tham dự các hội nghị thượng đỉnh NATO thường niên. Nhật Bản tìm cách huy động châu Á ủng hộ Ukraine, lập luận rằng bảo vệ chủ quyền Kyiv cũng là bảo vệ châu Á trước sự bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc. Năng lực quốc phòng ngày càng tăng của Hàn Quốc nay cũng đóng góp cho an ninh Đông Âu. Ở phía bên kia chiến tuyến, sự liên kết Á–Âu cũng diễn ra tương tự. Trung Quốc trở thành bên hỗ trợ tích cực hơn cho khả năng duy trì chiến tranh của Điện Cẩm Linh tại Ukraine. Triều Tiên không chỉ cung cấp phần lớn đạn pháo cho Nga mà còn gửi quân sang chiến đấu cùng lực lượng Nga.
Sự hội nhập Á–Âu giờ đây không còn là khái niệm trừu tượng. Kể từ khi Trump trở lại nắm quyền, châu Âu đẩy nhanh nỗ lực đa dạng hóa kinh tế, đặc biệt chú trọng khu vực Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương. Các sáng kiến thương mại mới với Úc, Ấn Độ và Indonesia nổi bật trong số đó. Châu Âu cũng tái khởi động các quan hệ đối tác an ninh với các đối tác lớn ở châu Á. Chẳng hạn, châu Âu đã đồng ý thúc đẩy hợp tác công nghiệp quốc phòng với New Delhi, dự kiến sẽ giúp Ấn Độ giảm phụ thuộc vào vũ khí Nga.
Tư duy địa chính trị quay trở lại châu Âu, sau nhiều thập kỷ xem thường chủ nghĩa hiện thực và quyền lực chính trị, cũng phải đối mặt với thách thức khó khăn hơn: Giải quyết các hệ quả từ nỗ lực của Trump nhằm cải thiện quan hệ Mỹ–Nga. Khi châu Âu tiếp tục hỗ trợ quốc phòng và kinh tế cho Ukraine và phát triển năng lực răn đe trước Nga, có nguy cơ nhường vai trò đối thoại ngoại giao với Mạc Tư Khoa cho Washington.
Một thách thức tương tự cũng chờ đợi châu Á, khi Trump tìm kiếm “quan hệ tôn trọng” với Trung Quốc, trong khi vẫn hứa bảo vệ vững chắc chuỗi đảo thứ nhất dọc bờ biển phía đông Trung Quốc. Trung Quốc là một thế lực thống trị tại châu Á hơn nhiều so với Nga ở châu Âu. Phần lớn các quốc gia châu Á đều mong muốn duy trì quan hệ ổn định với Bắc Kinh vì sức mạnh kinh tế của nước này, đồng thời vẫn hy vọng cam kết an ninh của Washington đối với khu vực không suy yếu. Trong khi các đối tác châu Á cầu mong Trump không thỏa hiệp với Trung Quốc tại khu vực, họ cũng muốn “đánh phòng ngừa” bằng cách mở rộng quan hệ với các quốc gia châu Á khác và các đối tác châu Âu.
Sự thay đổi trong chiến lược của Washington và triển vọng cải thiện quan hệ Mỹ với Nga và Trung Quốc sẽ làm gia tăng động lực hợp tác sâu hơn giữa châu Âu và châu Á. Điều chúng ta đang chứng kiến là một giai đoạn mà Mỹ vẫn là một tác nhân chủ chốt tại Á–Âu, nhưng châu Âu và châu Á đã học cách cần làm nhiều hơn trên cơ sở bình đẳng, thay vì quay lại một quá khứ phụ thuộc bất cân xứng. Chiến tranh của Nga tại Ukraine và cách tiếp cận mới của Trump đối với khu vực đã làm thay đổi sâu sắc phép tính địa chính trị của cả châu Âu lẫn châu Á.
***
Sau bốn năm chiến tranh, tương lai của Ukraine đang phụ thuộc vào kết quả các cuộc đàm phán giữa chính quyền Trump và Điện Cẩm Linh, trong khi người châu Âu phải đứng chờ bên ngoài phòng thương lượng. Bước sang năm thứ năm của cuộc chiến, chúng ta có thể đối diện với hai kịch bản rất khác nhau.
Một là thỏa thuận hòa bình do Mỹ và Nga đạt được có thể chấm dứt chiến tranh. Hai là sự đổ vỡ trong đàm phán giữa Washington, Moscow và Kyiv có thể dập tắt mọi hy vọng ngắn hạn về một lệnh ngừng bắn hay một nền hòa bình bền vững.
Từ góc độ kinh tế, hệ quả đối với châu Âu của hai kịch bản này sẽ rất khác biệt. Một thỏa thuận hòa bình do Mỹ làm trung gian nhiều khả năng sẽ bao gồm một mức độ nới lỏng trừng phạt của Mỹ đối với Nga, và ngay lập tức đặt ra câu hỏi liệu Liên Minh Châu Âu có làm theo bằng cách giảm nhẹ các biện pháp hạn chế của mình hay không. Ngược lại, nếu quan hệ Mỹ–Nga sụp đổ, điều đó có thể khôi phục sự phối hợp xuyên Đại Tây Dương về Ukraine và mở đường cho các biện pháp trừng phạt mạnh tay hơn đối với Moscow.
Trước hết, hãy xem xét kịch bản Mỹ và Nga đạt được thỏa thuận chấm dứt chiến tranh. Về mặt kinh tế, điều này sẽ có ba hệ quả tức thì đối với châu Âu.
Thứ nhất, Moscow nhiều khả năng chỉ chấp nhận thỏa thuận nếu đổi lại được Washington nới lỏng trừng phạt, chẳng hạn như gỡ bỏ các biện pháp trừng phạt đối với “đội tàu ma” chuyên chở dầu Nga sang Trung Quốc và Ấn Độ. Điều này sẽ nhanh chóng đặt châu Âu vào thế khó: Khu vực tư nhân của EU sẽ vận động hành lang đòi nới lỏng tương tự các biện pháp của EU, lập luận rằng việc Mỹ giảm trừng phạt khiến doanh nghiệp châu Âu bị bất lợi so với các đối thủ Mỹ. Trong bối cảnh đó, các quốc gia thành viên EU sẽ gặp khó khăn trong việc nhất trí gia hạn các lệnh trừng phạt liên quan đến Nga mỗi sáu tháng một lần. Đợt gia hạn lớn tiếp theo dự kiến diễn ra vào tháng Bảy.
Thứ hai, bất kỳ thỏa thuận Mỹ–Nga nào cũng có thể bao gồm các hợp đồng cho phép các công ty năng lượng Mỹ tham gia phát triển các mỏ dầu và khí đốt của Nga. Một lần nữa, châu Âu sẽ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan: Hệ thống đường ống hiện có và vị trí địa lý khiến châu Âu trở thành thị trường tự nhiên cho xuất khẩu dầu Nga, với sự hỗ trợ tài chính hoặc công nghệ từ các công ty Mỹ. Trong bối cảnh nhiều nhà hoạch định chính sách châu Âu đã lo ngại EU ngày càng phụ thuộc vào nguồn khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) từ Mỹ, viễn cảnh năng lượng Nga quay trở lại thị trường EU với sự hậu thuẫn của Mỹ có thể khiến nhiều thủ đô châu Âu phải báo động.
Thứ ba, một thỏa thuận hòa bình Mỹ–Nga sẽ chuyển trọng tâm thảo luận sang vấn đề tái thiết Ukraine. Donald Trump đã nói rõ rằng ông muốn châu Âu chi trả phần lớn chi phí này. Trong khi nguồn lực tài khóa của nhiều nền kinh tế EU đang dần cạn kiệt, và Ngân hàng Thế giới ước tính vào tháng 2 năm 2025 rằng công cuộc tái thiết sẽ tiêu tốn 524 tỷ USD trong thập kỷ tới, kịch bản này có thể làm gia tăng chia rẽ trong nội bộ châu Âu, tương tự những tranh cãi gay gắt gần đây về số phận tài sản dự trữ của Ngân hàng Trung ương Nga đang bị đóng băng.
Giờ hãy xem xét hệ quả nếu các cuộc đàm phán Mỹ–Nga thất bại. Sự vỡ mộng với Điện Cẩm Linh tại Washington có thể dẫn đến việc Mỹ và EU nối lại hợp tác chặt chẽ nhằm siết trừng phạt mạnh hơn, chẳng hạn cùng nhau đưa “đội tàu ma” của Nga vào danh sách trừng phạt. Đây sẽ là kịch bản ác mộng đối với Moscow, vốn đã lao đao sau vòng trừng phạt tháng 10 năm 2025 của Mỹ nhằm vào các tập đoàn dầu khí khổng lồ như Lukoil và Rosneft.
Khi các nhà máy lọc dầu tại Ấn Độ và Trung Quốc ngày càng dè dặt trong việc phớt lờ các lệnh trừng phạt của Mỹ, mức chiết khấu của dầu Urals (Nga) so với chuẩn Brent toàn cầu đã nới rộng lên khoảng 27 USD/thùng. Ở mức giá hiện nay, điều đó có nghĩa Nga đang bán dầu với mức giảm giá khoảng 40% so với đối thủ. Hệ quả là doanh thu năng lượng của Nga trong tháng 1 đã giảm một nửa so với cùng kỳ năm trước; hiện chỉ còn chiếm 24% tổng thu ngân sách của Điện Cẩm Linh so với khoảng một nửa trước chiến tranh.
Điện Cẩm Kinh hiểu rằng thời gian không còn nhiều về mặt kinh tế. Năm 2026 có thể là năm cuối cùng Nga còn có thể bán LNG và khí đốt đường ống cho các khách hàng châu Âu còn lại. Doanh thu từ các thương vụ này đạt khoảng 22 tỷ Euro trong năm 2025, tài trợ cho một phần đáng kể chi phí quân sự của Nga. Tình hình sẽ còn khó khăn hơn vào năm 2027, khi lệnh cấm hoàn toàn của EU đối với LNG và khí đốt đường ống từ Nga có hiệu lực. Lệnh cấm của Mỹ đối với nhập khẩu Uranium Nga cũng sẽ có hiệu lực vào cuối năm đó, tiếp tục làm suy giảm nguồn thu xuất khẩu của Điện Cẩm Linh.
Nếu các nhà lãnh đạo châu Âu muốn lập luận một cách thuyết phục rằng họ xứng đáng có một ghế tại bàn đàm phán, họ cần chuẩn bị cho hệ quả kinh tế của cả hai kịch bản: Một thỏa thuận hòa bình Mỹ–Nga hoặc một sự đổ vỡ trong đàm phán. Hai kịch bản này sẽ buộc các nhà hoạch định chính sách EU phải đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau về trừng phạt, năng lượng và tài chính tái thiết. Khi uy tín và tương lai của châu Âu đang bị đặt cược, ứng phó tùy cơ sẽ là lựa chọn tồi tệ nhất.
……………………………………
No comments:
Post a Comment