Monday, February 23, 2026

VNTB – Hậu Chí Phèo và Dư Luận ( kỳ 23)
Phạm Thành
24.02.2026 12:25
VNThoibao



VI- Gia Sản Kế Thừa

Thưa ngài, dòng họ Võ Đức có nhiều tướng tá giỏi, nhưng người tài năng nhất, nổi tiếng nhất lại là một lão nông tri điền có tên là Võ Đức Nội. Võ Đức Nội là cha đẻ của Võ Thị Cúc. Ông là người duy nhất trong dòng họ Võ Đức được triều đại của tay Chí vinh danh ghi tên ở thái miếu Quốc tử giám. Tài năng hơn người của Võ Đức Nội là tài năng làm cày chìa vôi, làm bừa răng thưa. Sự nghiệp to lớn, vĩ đại của ông không trí thức hay nhà khoa học nào ở làng Vũ Đại có thể sánh nổi. Nó vĩ đại đến mức, ông không thể nhớ, ông đã làm ra được bao nhiêu cái cày, cái bừa; đến mức, ngành nghề thống kê nhà nước của triều đại tay Chí cũng đành bó tay, tức không thể thống kê, ghi chép nổi.  

Nhưng, đến năm Võ Đức Nội đã ngoài bảy mươi tuổi, trước quốc dân đồng bào, ông bất ngờ tuyên bố giải nghệ và thông báo, ông chỉ sản xuất duy nhất một cái cày chìa vôi nữa, nhằm để lại kế thừa cho thằng cháu đích tôn họ Võ Đức nhà ông. 

Nhưng, như dao sắc không tự gọt được chuôi, cái cày chìa vôi cuối cùng đó lại dở chứng, không thể nào cày được. 

Võ Đức Nội bực mình lắm. Ông đem cày giở chứng đó ra giữa sân, rồi đưa bàn tay to, rắn chắc nắm đuôi theo cày, lắc nó sang phải, sang trái, như một tay thợ cày đang lách cày, cày trên đồng ruộng, trong khi mắt ông nheo nheo nhìn lướt theo bắp cày. Ông chẳng thấy có gì  sai sót. Ông quyết định tháo cày ra. Tháo xong, ông kéo hai ống quần lá tọa lên đùi, nhẹ nhàng ngồi xổm xuống sân, tỉ mẩn kiểm tra từng bộ phận một của cái cày. Mắt ông lại nheo nheo nhìn vào cái lỗ tròn trên bắp cày. Nó cũng đúng cách: phần lõm phía trên hơi bóp lại, phần lõm phía dưới mở to hơn. Theo thói quen, ông đưa hẳn ngón tay sờ vào cái lỗ tròn ấy, như kiểm chứng thêm cho đôi mắt của ông, giờ đã kém tinh tường. Ngón tay của ông cũng không phát hiện được điểm sai sót gì. Lạ thật!

Ông cúi người hạ cái cày nằm nghiêng xuống sân. Ông tỉ mĩ kiểm tra độ chính xác của bắp cày, đoạn từ chốt cày ngược lên phía tay cày. Ông gang tay đo độ dài của bắp cày. Nó cũng khớp với độ dài bắp cày, giống những cái cày ông đã làm trước đây. Lạ nhỉ? Ông lại tiếp tục xòe tay đo liền mấy gang từ đoạn chốt cá cày đến vai cày. Đều đúng quy cách khoa học chế tạo cày. Không có khác nhau gì cả. Ông đã có phần bực tức ở trong bụng. Để kỹ lưỡng hơn nữa, ông tiếp tục hì hục kiểm tra thêm môn cày, và xòe tay ra đo cái góc nhọn tạo thành giữa theo cày với bắp cày. Giống nhau hết. Ấy mà tại sao thằng cháu đích tôn nhà ông, thợ cày giỏi của làng, lại bảo cày không thể cày được. Hắn bảo, cày, lúc thì ăn nông, lúc thì ăn sâu, lúc thì không bắt vào luống, cứ trượt trợt trên ruộng cày. 

Không biết nguyên nhân, cày không cày được là vì đâu, Võ Đức Nội bực mình lăm lắm. Ngoài bảy mươi tuổi, đời ông có dễ đã làm tới mấy trăm cái cày chìa vôi. Cái thì nhà ông dùng. Cái cho anh em họ hàng,  hàng xóm dùng. Cái đem nộp vào kho nông cụ xã nghĩa của tay Chí. Chưa có một cái cày nào lại “trái khoáy” như cái cày này. Nó không có khác gì với những cái mà ông đã làm trước đây. Bắp cày này, cũng là một đoạn gốc, lấy từ một thân cây tre già; theo cày này, vẫn là khúc gỗ lim lấy từ rừng về do tay Chí cấp phát cho ông. Ông đã tuyên bố, cái cày chìa vôi này, là cái cày cuối cùng trong sự nghiệp sáng tạo cày của đời ông, nên ông đã tập trung sức lực, trí tuệ cao nhất để  đo, đục, lắp ráp, cẩn thận đến từng chi tiết nhỏ. Nó không chỉ là công cụ sinh nhai mà còn là của thừa kế cơ nghiệp nghề nông gia truyền từ tổ tiên, dòng họ nhà ông. Nó cũng còn là sản phẩm danh dự kết lại sự nghiệp sáng tạo làm cày danh giá của cả cuộc đời ông. Cái cày này mà không cày được, ông có nhắm mắt cũng khó bề thanh thản. Thế hệ mai sau, có thằng đểu nào đó, đem cái cày này làm thực chứng, tên ông có thể sẽ bị xóa đi khỏi văn bia Quốc tử giám. Bởi vậy, ông không thể không tìm cho ra những sai sót của cày.

Chưa thể tìm ra, ông ngồi thừ ra, tư lự. Bỗng ông xoay người, mở to cặp mắt già nhìn vào thằng cháu đích tôn, chỉ mặc độc một cái quần cộc, đang nằm nghiêng trên bờ hè, ngủ ngáy say sưa. Thằng cháu phải bỏ dỡ một buổi cày, là tại cái cày này đây. Ông muốn hỏi thêm cháu, nhưng thấy nó đang “phì phì”, ông đành thôi.

Ồng nhìn thằng cháu ông đang nằm ngủ một cách ngoan hiền mà ông thương. “Thôi! Chả cày nay thì cày mai, ruộng vẫn còn đó, lo gì”. Nghĩ thế, ông bèn nở một nụ cười yếu ớt, rồi bỏ cày đứng lên. “Chả sao cả. Ngày xưa, mình cũng như nó mà sống đến ngoài bảy mươi mà vẫn chưa chết”.

Bỗng, ông nghe tiếng đồng hồ bàn đổ chuông, báo hiệu mười hai giờ trưa. Ông đưa tay lên sờ cằm. Mấy sợi râu thưa của ông ướt đẫm mồ hôi. Đang là tháng hè oi nồng. Một cơn gió tây thổi qua, ông cảm thấy cái nóng se se trên mặt. Ông hấp tấp bước vào nhà. Ông phải lên dây cót cho cái đồng hồ gà mổ cái đã. Kẻo trưa mai nó có thể lại chạy sai giờ.

Cái đồng hồ gà mổ. Có người trong xóm chê đã quá cũ, khuyên ông nên thay nó đi. Nhưng, việc gì phải thay khi con gà vẫn còn mổ. Nó đã là cái đồng hồ tốt nhất làng, gắn bó trong nhà ông đã mấy chục năm nay. Cái đợt mua năm sáu mấy, có cái đồng hồ nào còn chạy được đến bây giờ đâu? Đúng là của bền tại người thật. Cứ để nguyên nó trong tủ. Chỉ một người lên dây vào đúng mười giờ, thì chẳng mấy khi nó hỏng. Nó có sai thì cũng chỉ sai một vài bữa, rồi có ngày nó lại đúng với “tít tít” báo giờ của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Khi ông cầm cái đồng hồ gà mổ, định lên dây cót, ông chợt nghe như có tiếng gà mái gáy từ trong đồng hồ vọng ra. Ông phân vân, không biết là ông “tai tưởng” hay là gà mái gáy thật? Hay là hồn con Cúc  hiện về, ẩn vào đây? Nhưng hôm nay, sau khi nghe tiếng gà mái gáy, cái đồng hồ trên tay ông kêu luôn mấy tiếng “sành sạch” rồi im bặt. Ông không còn nghe tiếng “tích tắc” chạy đều đều nữa. Ông liếc mắt nhìn vào con gà vẫn cần mẫn mổ thời gian, thấy nó cũng đã đứng im. Theo thói quen, ông vặn dây cót, ông cũng không nghe nó “tích tắc” chạy trở lại. Ông dùng tay vỗ vỗ mấy cái vào nó, nhưng nó cũng vẫn kiên quyết không chạy. Bất lực, ông nhẹ nhàng đặt nó vào nắp tủ, ở chỗ như mọi khi và hy vọng ngày mai, có thể bất ngờ nó lại “tích tắc” chạy trở lại như nhiều lần nó đã bất ngờ chạy rồi không chạy; không chạy rồi bất ngờ lại chạy trở lại.

Mười hai giờ trưa, cũng là giờ mà ông cần ăn trưa và nghỉ trưa. Ông thập thẩng đi xuống gian bếp, rồi bê ra một nồi. Chẳng cần mâm bát, đũa thìa gì, ông đưa mấy ngón tay vào nồi, đào bới trong đó một lúc, ông mới cầm ra một cục tròn tròn, to như quả ổi lai. Đó là một nắm khoai khô nấu lẫn với đậu xanh.

Ở nông thôn, giữa trưa ngày, có một nồi khoai nấu với đậu, ăn bữa chính như thế, cũng được xếp vào loại gia đình khá giả. Khoai khô nấu với đậu xanh, ăn vừa ngọt, vừa bùi. 

Võ Đức Nội vẫn thường thích ăn món này. Nhưng do tuổi già, chất nhờn trong họng không còn bao nhiêu, nên thỉnh thoảng ông nhai, ông nuốt, miếng khoai khô nấu lẫn đậu xanh đó, cứ nghẹn lên nghẹn xuống nơi cổ họng ông. Ăn mà hay nghẹn thì sống cũng chẳng còn được bao năm nữa. Nghĩ cũng tiếc đời. Bây giờ mình còn khổ, nhưng ngày mai hẳn sẽ sung sướng hơn. Thằng con ông, từ khi có “Khoán Mười”, được nhận khoán mấy sào ao thả cá. Hắn tính, một năm thu lãi tới mấy triệu đồng. Lại còn thằng cháu đích tôn, cũng đã ngoài hai mươi tuổi, có sức khỏe, tính lại tham công tiếc việc, rất chịu khó lăn lộn với đồng ruộng. Cứ cái đà con cháu hay lam hay làm đó, nhà mình chẳng mấy chốc mà khá giả lên. Nếu kinh tế mà khá lên, ngoài bảy mươi tuổi như ông, sáng có một bát cháo trứng gà, trưa ăn xôi với thịt thủ, chiều làm một ly rượu nút lá chuối, rồi lăn ra ngủ, thì còn phải mong ước gì hơn nữa. Nghĩ tới ngày mai sung sướng mà ông thấy buồn cho miếng khoai khô nấu lẫn với đậu xanh đang còn tắc nghẽn ở trong cổ họng ông.

Ông ngao ngán lẩm bẩm: “Mơ với ước, thật chán cái mớ đời”. Ý nghĩ của ông lại trở về với cái cày hỏng đang nằm ở ngoài sân. “Nếu chẳng may vì nghẹn khoai mà ông phải nằm xuống tức thì, thì thật vô lối. Thiên hạ người ta chả lại cười cho, rằng: “Dao sắc không tự gọt được chuôi. Nhưng mà kệ cha nó, hãy cứ đánh một giấc trưa cái đã”.

Giấc ngủ của người già vốn không bao giờ sâu, và thường hay mộng mị. Trưa nay, lão Võ Đức Nội cũng mộng mị. Từ cái cày hỏng, đến cái đồng hồ tự nhiên vang lên tiếng gà mái gáy, rồi lịm đi, suy nghĩ của ông kéo về gia phả chín đời nhà ông.

Dưới thời mạt Trần, giặc giã, lụt lội xảy ra liên miên, nhiều vùng nông thôn đói kém. Vua sắc chiếu cho phép dân đinh tự do tìm chốn làm ăn, dựng nghiệp. Họ Võ Đức nhà ông, quê tận dưới vùng trũng giáp biển, được chiếu vua, liền lập thành ba đoàn, với ba con thuyền, nhằm rừng phía Tây, ngược dòng sông Vũ Đại, đi lên. Sau mấy ngày chèo thuyền ngược dòng, đoàn người đi đến Ngã Ba Bông thì lại chia thành ba đoàn. Một đoàn ngược theo sông Chu, một đoàn ngược vào sông Ngựa, đoàn của nhà ông cho thuyền ngược vào sông Cầu Chày. Xuôi thuyền tiếp bốn ngày nữa, đoàn người gặp một cái chợ bên rìa sông Cầu Chày, dân vùng này gọi là chợ Găng, thì đoàn người bỏ thuyền, lên bờ cắm lều ở lại. Sau một thời gian khai hoang, phát rậm và cày cấy vài vụ, thấy làm ăn được, đoàn người lang thang cầu thực nhà ông quyết định ở hẳn lại đây. Ngày đầu tiên đặt chân đến đây là một ngày trời đổ mưa như ông trời đổ cả một trời nước xuống. Cả đoàn người không có nới trú ẩn, bị ướt, bị rét, bị đói như không còn hy vọng sống, nên ông Võ Đức Công – tổ của họ nhà ông – đặt cho xóm mới này cái tên Vũ Đại. Vũ có nghĩa là mưa gió, đại có nghĩa là to, là lớn. Vũ Đại có nghĩa là mưa to, gió lớn.

Ông Võ Đức Công lập nghiệp ở đây được một thời gian thì bị dân bản xứ kiện đòi đất. Vụ kiện kéo dài tới mười năm. Nhờ ông Võ Đức Công có mối quan hệ với vua Lê, mà đất không bị mất. Ghi nhớ công lao của ông Võ Đức Công, dân Vũ Đại lập đền thờ ông, phong ông làm Thanh hoàng làng. Dân Vũ Đại đến bây giờ vẫn thường kể cho nhau nghe câu chuyện này, với một lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc.

…………………………..

Kỳ 1: Hậu Chí Phèo và Dư Luận      Kỳ 2: Hậu Chí Phèo và Dư Luận    Kỳ 3: Hậu Chí Phèo và Dư Luận

Kỳ 4:Hậu Chí Phèo và Dư Luận       Kỳ 5: Hậu Chí Phèo và Dư Luận    Kỳ 6:Hậu Chí Phèo và Dư Luận

Kỳ 7: Hậu Chí Phèo và Dư Luận      Kỳ 8: Hậu Chí Phèo và Dư Luận    Kỳ 9: Hậu Chí Phèo và Dư Luận

Kỳ 10: Hậu Chí Phèo và Dư Luận    Kỳ 11: Hậu Chí Phèo và Dư Luận  Kỳ 12: Hậu Chí Phèo và Dư Luận

Kỳ 13: Hậu Chí Phèo và Dư Luận    Kỳ 14: Hậu Chí Phèo và Dư Luận  Kỳ 15: Hậu Chí Phèo và Dư Luận

Kỳ 16: Hậu Chí Phèo và Dư Luận    Kỳ 17: Hậu Chí Phèo và Dư Luận   KỲ 18: Hậu Chí Phèo và Dư Luận

Kỳ 19: Hậu Chí Phèo và Dư Luận    Kỳ 20: Hậu Chí Phèo và Dư Luận   Kỳ 21: Hậu Chí Phèo và Dư Luận

Kỳ 22: Hâu Chí Phèo và Dư Luận

No comments:

Post a Comment