VNTB – Tham vọng tăng trưởng kinh tế của Tô LâmMichael Hart
19.02.2026 4:40
VNThoibao
(VNTB) – Tham vọng của Tô Lâm hiện đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP hàng năm 10% cho đến năm 2030, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045
Tháng trước, Tô Lâm đã tái đắc cử chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam nhiệm kỳ 5 năm. Nhờ xuất khẩu mạnh và các cải cách kinh tế đưa ra sau khi Tô Lâm tiếp quản vị trí của ông Nguyễn Phú Trọng vào giữa năm 2024, Việt Nam ước tính nền kinh tế tăng trưởng 8% trong năm 2025, vượt xa dự báo của Ngân hàng Thế giới về mức tăng trưởng khoảng 6,5%.
Tham vọng của Tô Lâm hiện đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP hàng năm 10% cho đến năm 2030, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, khi kỷ niệm 100 năm ngày độc lập.
Kỳ vọng giảm phụ thuộc vào xuất khẩu
Trọng tâm là kế hoạch thành lập 20 doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh toàn cầu vào năm 2030, với việc Bộ Chính trị coi khu vực tư nhân là một trong những “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế. Điều này đánh dấu một sự thay đổi lớn đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa độc đảng, nơi các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo truyền thống là “xương sống của nền kinh tế”.
Điều này cho thấy Việt Nam đang tìm cách giảm sự phụ thuộc vào mô hình xuất khẩu vốn là nền tảng cho tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng kể từ cuộc cải cách Đổi Mới, mở cửa nền kinh tế kế hoạch tập trung của Việt Nam cho đầu tư nước ngoài và thương mại toàn cầu vào những năm 1980. Mô hình này đã bị đe dọa vào tháng 4 năm ngoái, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố áp thuế “trả đũa” mới ở mức 46% đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam – một trong những mức cao nhất vào thời điểm đó. Mức thuế này sau đó đã được giảm xuống còn 20%, sau khi Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên đàm phán mức thuế thấp hơn với Washington nhằm ổn định lĩnh vực xuất khẩu.
Tuy nhiên, nếu muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng 10% đầy tham vọng của Tô Lâm, Hà Nội phải đảm bảo các kế hoạch về các doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh toàn cầu mang lại lợi ích cho nền kinh tế trong nước, đồng thời thúc đẩy các dự án cơ sở hạ tầng để giúp các nhà sản xuất Việt Nam vươn lên trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu ở các lĩnh vực chiến lược.
Trong bối cảnh bất ổn kinh tế toàn cầu về thương mại và địa chính trị, đây sẽ không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Việt Nam từ lâu đã là trung tâm sản xuất toàn cầu, với các công ty như Samsung và Nike sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng cao trong nước để xuất khẩu, trong khi hầu hết các linh kiện được nhập khẩu từ nước ngoài. Theo mô hình này, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 75% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào năm 2025, tương đương 367 tỷ USD hoặc hơn hai phần ba GDP của Việt Nam. Riêng xuất khẩu sang Mỹ đã chiếm gần một phần ba tổng số.
Thách thức từ chính quyền Trump
Thực tế, Việt Nam là một trong những nước hưởng lợi chính từ chính sách thương mại nhiệm kỳ đầu tiên của Trump, khi thuế quan áp đặt lên Trung Quốc đã khiến nhiều công ty chuyển địa điểm sản xuất về Việt Nam, trong đó nhiều công ty lắp ráp sản phẩm chủ yếu bằng các linh kiện sản xuất tại Trung Quốc để tránh nhãn hiệu “Sản xuất tại Trung Quốc” đắt đỏ hơn. Điều này đã dẫn đến tăng trưởng GDP ổn định cho Việt Nam, đồng thời giảm thiểu tác động của đại dịch COVID-19 và thiên tai, bao gồm các cơn bão thường xuyên ở miền Bắc và lũ lụt ở các tỉnh miền Trung.
Tuy nhiên, sự bùng nổ xuất khẩu cũng đã thúc đẩy thặng dư thương mại ngày càng tăng với Mỹ, đạt 123 tỷ USD vào năm 2024, gây ra sự tức giận của ông Trump kể từ khi ông trở lại Nhà Trắng. Khi công bố mức thuế quan ban đầu 46% đối với Việt Nam vào tháng 4, các quan chức Mỹ đã viện dẫn những lo ngại về việc hàng hóa Trung Quốc bị vận chuyển quá cảnh qua Việt Nam để né tránh các mức thuế hiện hành đối với Bắc Kinh.
Hà Nội đã nhanh chóng phản hồi, và cuộc đối thoại sau đó đã dẫn đến việc giảm thuế quan hơn một nửa, mặc dù mức thuế cao hơn 40% vẫn được giữ nguyên đối với hàng hóa vận chuyển quá cảnh. Việt Nam đã cam kết giải quyết vấn đề này, nhưng việc thực thi sẽ khó khăn do sự phức tạp của chuỗi cung ứng hiện đại. Hà Nội cũng đã thực hiện một loạt các thương vụ mua mang tính biểu tượng để xoa dịu ông Trump, đồng ý một thỏa thuận trị giá 8 tỷ USD để mua máy bay Boeing, đồng thời chấp nhận thêm hàng hóa dược phẩm và nông sản từ các nhà sản xuất Mỹ.
Kết quả là, Việt Nam đã thành công trong việc duy trì mối quan hệ thương mại với Mỹ và đảm bảo ngành xuất khẩu không bị sụp đổ. Trớ trêu thay, sự không chắc chắn về thuế quan thậm chí còn mang lại sự thúc đẩy ngắn hạn cho nền kinh tế Việt Nam vào năm 2025, khi xuất khẩu tăng 28% từ tháng 1 đến tháng 6 so với cùng kỳ năm ngoái, do các doanh nghiệp hoàn tất bán hàng trước khi thuế suất có thể được áp dụng.
Phát triển kinh tế tư nhân
Kế hoạch kinh tế tổng thể của Tô Lâm được củng cố bởi Nghị quyết 68, được Bộ Chính trị thông qua vào tháng 5 năm ngoái. Nghị quyết này nêu rõ việc hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân lớn cạnh tranh quốc tế và là sự thay đổi triệt để nhất trong chính sách kinh tế của Việt Nam trong một thế hệ. Kể từ thời Đổi Mới những năm 1980, các cải cách nhỏ hơn chỉ tạo ra những thay đổi dần dần, với các doanh nghiệp nhà nước lớn – chiếm tổng cộng 29% GDP tính đến năm 2024 – vẫn giữ quyền ưu tiên tiếp cận đất đai và đầu tư nhà nước.
Việt Nam hiện có kế hoạch tạo ra sân chơi bình đẳng và cung cấp những lợi thế này cho cả các doanh nghiệp tư nhân. Bằng cách nuôi dưỡng các doanh nghiệp hiện có như tập đoàn xây dựng Vingroup, nhà sản xuất thép Hoa Phát, nhà sản xuất xe điện VinFast và công ty công nghệ thông tin…FPT và Tô Lâm hy vọng những doanh nghiệp này có thể nhanh chóng mở rộng ra thị trường toàn cầu, nhân rộng câu chuyện thành công của các công ty lớn từ các nền kinh tế phát triển ở Đông Bắc Á, đặc biệt là Hàn Quốc.
Đổi mới công nghệ sẽ là chìa khóa khi Việt Nam nỗ lực vươn lên chuỗi giá trị sản xuất và nâng cao năng lực trí tuệ nhân tạo (AI). Điều này sẽ phụ thuộc vào sự hỗ trợ cho nghiên cứu và đào tạo tại các doanh nghiệp và trường đại học, nhưng vẫn còn tiềm năng chưa được khai thác đáng kể ở quốc gia 100 triệu dân này. Bên cạnh việc tập trung hơn vào các ngành công nghệ cao, Hà Nội cũng cần đảm bảo rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như người lao động trong khu vực phi chính thức không bị bỏ lại phía sau.
Như nhà khoa học chính trị Nguyễn Khắc Giang đã lập luận năm ngoái, để làm được điều đó, các công ty lớn cần phải “tích hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào chuỗi giá trị của mình thay vì kìm hãm chúng”, và các doanh nghiệp nhỏ phải được bảo vệ khỏi bị “lấn át” bởi các tập đoàn tư nhân lớn nắm giữ độc quyền thông qua các mối quan hệ chính trị. Nếu không, có nguy cơ các doanh nghiệp nhà nước có thể bị thay thế hoặc sáp nhập bởi một loạt các thực thể bán nhà nước mới thống trị thị trường.
Theo kế hoạch của Tô Lâm, khu vực tư nhân của Việt Nam dự kiến sẽ góp phần củng cố vị thế của đất nước như một trung tâm sản xuất cho các công ty toàn cầu, trở thành động lực chính thứ hai của nền kinh tế. Nhưng cũng có một nguồn tiềm năng tăng trưởng thứ ba trong tương lai: kết nối. Để khai thác tiềm năng đó, Việt Nam sẽ phải tận dụng vị trí địa lý thuận lợi cho thương mại và hội nhập kinh tế tốt hơn, cả trong nước và với các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc ở phía bắc. Hà Nội đã và đang từng bước tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng.
Phát triển hạ tầng
Trong nước, Việt Nam có kế hoạch xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam dài 950 dặm từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh, với tổng vốn đầu tư 67 tỷ USD. Dự án này, vốn theo truyền thống là dành riêng cho các doanh nghiệp nhà nước, nay được mở cửa cho các nhà thầu tư nhân, dự kiến khởi công vào cuối năm 2026 và tuyến đường sẽ đi vào hoạt động năm 2035. Các dự án quy mô lớn khác, bao gồm các tuyến đường cao tốc chính và việc mở rộng sân bay Nội Bài ở ngoại ô Hà Nội, đã được hoàn thành.
Khu vực phía Bắc Việt Nam, nơi một dự án đường sắt khác nhằm kết nối các trung tâm công nghiệp lớn với Trung Quốc, cũng là một động lực tăng trưởng. Tuyến đường dài 245 dặm, với chi phí xây dựng 8,3 tỷ đô la, sẽ kết nối thị trấn biên giới Lào Cai với Hà Nội và thành phố biển Hải Phòng, với cảng biển lớn của nó. Dự án sẽ được tài trợ một phần bằng các khoản vay từ Bắc Kinh và Ngân hàng Xuất nhập khẩu của nước này, mặc dù số tiền vay chưa rõ ràng ở giai đoạn này, phần tài chính còn lại đến từ chính phủ Việt Nam và vốn tư nhân. Công tác xây dựng đã bắt đầu tại một số nhà ga dọc tuyến đường vào tháng 12.
Tuyến đường sắt này là biểu tượng cho mối quan hệ kinh tế ngày càng phát triển giữa Việt Nam và Trung Quốc, vốn đã được đẩy nhanh trong bối cảnh chính sách thuế quan của Trump. Chỉ vài tuần sau khi mức thuế quan ban đầu của Mỹ được công bố vào tháng 4 năm 2025, lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến thăm Hà Nội, nơi hai nước láng giềng đã ký một loạt các thỏa thuận kinh tế và cam kết mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực trọng điểm.
Thương mại song phương đã tăng 14,6% trong năm 2024 lên 254 tỷ đô la và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sắt thép, gỗ, nông sản và thủy sản sang Trung Quốc, đồng thời phụ thuộc vào Bắc Kinh về máy móc thiết bị phục vụ ngành sản xuất trong nước. Mặc dù có những căng thẳng lịch sử giữa hai nước, từng xảy ra chiến tranh biên giới năm 1979 và có những tranh chấp hàng hải chưa được giải quyết, Hà Nội vẫn coi mối liên kết kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc là rất quan trọng trong bối cảnh bất ổn thương mại toàn cầu hiện nay.
Khi Việt Nam phải đối mặt với nền kinh tế toàn cầu ngày càng khó đoán, sự hợp tác với các đối tác khu vực khác cũng trở nên quan trọng hơn. Bên cạnh Trung Quốc, các nhà cung cấp FDI lớn nhất của Việt Nam vào năm 2025 là Singapore và Nhật Bản, trong khi Hàn Quốc và khối ASEAN nằm trong số các đối tác thương mại hàng đầu. Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam với Liên minh châu Âu và tư cách thành viên trong các hiệp định kinh tế đa phương như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) cũng là một lá chắn chống lại sự khó đoán của chính quyền Trump.
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của Tô Lâm, Việt Nam sẽ phải khai thác tiềm năng của các mối quan hệ đối tác này, đồng thời tái cấu trúc nền kinh tế trong nước để không bỏ lại các doanh nghiệp nhỏ phía sau. Nhưng để tăng cường tính hợp pháp của Đảng Cộng sản cầm quyền—hiện đang bị lung lay do hàng loạt vụ bê bối tham nhũng, sự thay đổi lãnh đạo và bất ổn địa chính trị—lợi ích của sự tăng trưởng đó sẽ phải được phân bổ tương đối công bằng trong dân chúng.
Michael Hart là một nhà văn và nhà nghiên cứu chuyên về các vấn đề xung đột và hậu chiến ở Đông Nam Á. Ông là nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) và Tổ chức Hành động chống Bạo lực Vũ trang (AOAV), và đã đóng góp cho các ấn phẩm World Politics Review, The Diplomat và Asia Sentinel. Ông là biên tập viên của Editoria.
______________________________
Nguồn:
WPR – Lam’s Growth Ambitions for Vietnam Hinge on More Than Exports
No comments:
Post a Comment