Ngoại giao dưới thời ông Tô Lâm: Vì sao được đưa lên ngang tầm với an ninh và quốc phòng?
04/02/202556(6 giờ trước)
BBC

VGP
Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung đã được bầu vào Bộ Chính trị khóa 14
Tại Đại hội 14, đối ngoại lần đầu tiên được xác định là lĩnh vực "trọng yếu, thường xuyên", tức là coi trọng và nâng tầm hội nhập quốc tế.
Phát biểu với báo giới hôm 28/1, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết "trọng yếu, thường xuyên" được hiểu là công việc có tầm quan trọng hàng đầu, liên quan đến sự tồn vong, an nguy, thịnh suy của đất nước.
Đây cũng là lần đầu tiên đối ngoại, hội nhập quốc tế được đưa lên ngang hàng với quốc phòng và an ninh.
Một yếu tố thể hiện sự coi trọng đối với vấn đề ngoại giao là việc ông Trung được bầu làm ủy viên Bộ Chính trị khóa 14.
Việc này giúp ông Trung, người chính thức làm bộ trưởng Ngoại giao từ tháng 10/2025, có mặt trong các buổi họp của cơ quan vô cùng quyền lực này.
Derek Grossman, chuyên gia cao cấp Trung tâm Chính sách châu Á - Thái Bình Dương thuộc RAND Corporation, nhận định trên mạng xã hội X rằng đây là một bước đi khôn ngoan của Hà Nội.
"Điều này về cơ bản có nghĩa là Việt Nam sẽ nhìn xa hơn, vượt ra bên ngoài Mỹ và Trung Quốc để bảo đảm các lợi ích an ninh quốc gia của mình được đáp ứng," ông Grossman viết trên trang cá nhân.
Trong khi đó, Tiến sĩ Vũ Xuân Khang từ Đại học Boston, Mỹ nhận định với BBC News Tiếng Việt rằng đây là một điểm khác biệt so với thời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, dù ông cho rằng bản chất chính sách đối ngoại của Việt Nam dưới thời ông Tô Lâm được xây dựng trên nền móng "ngoại giao cây tre" mà ông Trọng đã củng cố trong suốt gần ba nhiệm kỳ.
Đọc nhiều nhất




Ông Khang đánh giá việc nâng tầm này thể hiện một tư duy chiến lược mới của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, với việc không sử dụng vũ lực hay sức mạnh quân sự để bảo vệ đất nước từ sớm và từ xa như trước đây.
"Nếu nhìn lại lịch sử của Việt Nam trong các cuộc chiến tranh Đông Dương lần 1, lần 2 hay lần 3 thì phần lớn Việt Nam thường sử dụng vũ lực, nhất là vũ lực quân sự khi họ điều quân đội qua Lào và Campuchia để xử lý các vấn đề có ảnh hưởng lớn tới an ninh quốc gia.
"Chính sách sử dụng vũ lực đó mặc dù đã rất hiệu quả khi Việt Nam hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội vào cuối thập niên 1990 thì vẫn gây ra những hệ lụy là nền kinh tế Việt Nam rơi vào kiệt quệ và có quá nhiều nhân lực ở trong lực lượng vũ trang thay vì lực lượng sản xuất," ông Khang nói.
Theo ông, trong hoàn cảnh hiện nay, Việt Nam vẫn đặt nặng tư duy bảo vệ đất nước từ sớm và từ xa, nhưng phương pháp đã được thay đổi, đặt nặng vai trò ngoại giao để xử lí hoặc ngăn chặn khủng hoảng trước khi xảy ra tại đất nước.
Đẩy mạnh hội nhập, nâng cấp quan hệ
Trong "bộ tứ trụ cột" nghị quyết mà Tổng Bí thư Tô Lâm nói là giúp Việt Nam "cất cánh", bên cạnh Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ; Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân còn có Nghị quyết 59 về Hội nhập Quốc tế trong tình hình mới.
Cuối tháng 1/2026, Việt Nam tham dự phiên họp tại Vienna (Áo) nhằm thảo luận dự thảo Quy chế Hội nghị quốc gia thành viên Công ước Hà Nội – công ước của Liên Hợp Quốc về tội phạm mạng được mở ký tại Hà Nội tháng 10/2025.
Tại cuộc họp, Việt Nam nhấn mạnh kỳ vọng công ước sẽ nâng cao vị thế quốc tế và năng lực phòng thủ mạng của nước này, đồng thời kêu gọi các quốc gia sớm hoàn tất việc ký và phê chuẩn để thỏa thuận sớm có hiệu lực
Điều này phản ánh chính sách đối ngoại mới của Đảng Cộng sản được đề ra tại Đại hội 14 vừa qua, theo đó Việt Nam "đẩy mạnh và nâng tầm ngoại giao đa phương, chủ động tham gia xây dựng định hình các thể chế đa phương".
Cũng trong tháng Một, ông Tô Lâm cũng nhanh chóng nhận lời mời tham gia Hội đồng Hòa bình Dải Gaza của Tổng thống Mỹ Trump với tư cách là thành viên sáng lập, trong bối cảnh một số quốc gia trong khu vực như Singapore, Thái Lan cho biết vẫn đang cân nhắc.
Tuy nhiên, khi thông tin càng được công bố chi tiết, Hội đồng Hòa bình này càng dấy lên nhiều lo ngại, chẳng hạn như về các thành viên hội đồng điều hành, khoản phí 1 tỷ USD để trở thành thành viên thường trực, hay khi so sánh với vai trò của Liên Hợp Quốc.
Trao đổi với BBC, Tiến sĩ Morragotwong Phumplab từ Đại học Thammasat, Thái Lan cho rằng cách tiếp cận của Việt Nam khác với Thái Lan hay Singapore, vốn thường có xu hướng thận trọng hơn và thường chờ đánh giá tác động chiến lược trước khi đưa ra quyết định.
"Thái Lan thường quan sát diễn biến trước khi hành động, trong khi Việt Nam có xu hướng tham gia các cơ chế mới tương đối nhanh nhằm mở rộng không gian ngoại giao, đồng thời vẫn duy trì sự linh hoạt trong việc xác định vai trò của mình,
"Một yếu tố rất quan trọng khác là bối cảnh quan hệ kinh tế, vì Việt Nam phụ thuộc khá lớn vào xuất khẩu và Mỹ hiện tại là thị trường lớn nhất của Việt Nam, vì vậy, việc duy trì bầu không khí tích cực trong quan hệ với Mỹ mang ý nghĩa chiến lược," chuyên gia này đánh giá.
Vì vậy, bà Phumplab cho rằng việc Việt Nam nhanh chóng chấp nhận lời mời tham gia Hội đồng Hòa bình Dải Gaza là một sự tính toán chiến lược rõ ràng, thể hiện rằng Hà Nội nhìn thấy cơ hội để củng cố vai trò quốc tế, tích lũy vốn ngoại giao và duy trì quan hệ tích cực với các cường quốc, trong khi vẫn giữ được sự linh hoạt.
Một ngày sau khi Bộ trưởng Lê Hoài Trung giải thích về việc đẩy mạnh ngoại giao thành nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên", Chủ tịch nước Lương Cường và Chủ tịch Hội đồng châu Âu António Costa công bố Việt Nam và EU nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện hôm 29/1.
Như vậy, đến nay Việt Nam có 15 Đối tác chiến lược toàn diện, trải rộng từ châu Á, châu Âu đến châu Mỹ, gồm Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Úc, Pháp, Malaysia, Singapore, Indonesia, New Zealand, Thái Lan, Vương quốc Anh và Liên minh châu Âu.
Đáng chú ý, Việt Nam giai đoạn trước khi ông Tô Lâm làm tổng bí thư mới chỉ có 7 đối tác chiến lược toàn diện, cấp độ cao nhất trong hệ thống đối ngoại của Việt Nam. Con số đó đã được mở rộng hơn gấp đôi kể từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền.

Dấu ấn của ông Tô Lâm
Theo Tiến sĩ Phumplab, những thay đổi dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ đơn thuần là việc điều chỉnh phong cách ngoại giao mà là phản ánh một sự nâng tầm vai trò của chính sách đối ngoại như một công cụ chiến lược của nhà nước một cách có hệ thống.
Đây được cho là bước chuyển quan trọng từ ngoại giao phòng vệ (defensive diplomacy) sang ngoại giao định hình môi trường (shaping diplomacy), đồng thời thể hiện nỗ lực đưa Việt Nam xuất hiện nổi bật hơn trên trường quốc tế.
Theo giới quan sát, động thái của Hà Nội thể hiện nhận thức rằng trong thế giới ngày nay, an ninh quốc gia không chỉ dựa vào sức mạnh quân sự mà còn phụ thuộc vào khả năng xây dựng mạng lưới đối tác, củng cố niềm tin kinh tế và đóng vai trò tích cực trong các cơ chế đa phương.
"Nếu so sánh với giai đoạn lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vốn ưu tiên ổn định nội bộ và quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, thì sự chuyển hướng hiện nay phản ánh mức độ tự tin cao hơn của lãnh đạo Việt Nam đối với tiềm lực kinh tế và vị thế quốc tế ngày càng gia tăng.
"Nói cách khác, Việt Nam hiện nay không chỉ tìm cách giữ thế cân bằng mà còn mong muốn chủ động hơn trong việc định hình không gian chiến lược của mình trên trường quốc tế," bà Phumplab nhận định.
Trong khi đó, Tiến sĩ Xuân Khang cho rằng khi một nhà lãnh đạo lên nắm quyền, người đó thường muốn đặt lại dấu ấn đối với chính sách đối ngoại của Việt Nam.
Chuyên gia này cho rằng, dù có hai tên gọi khác nhau, một bên là "ngoại giao cây tre" dưới thời ông Trọng, một bên là chính sách đối ngoại trong "kỷ nguyên vươn mình" dưới thời ông Tô Lâm, song không có nhiều sự khác biệt.
"Bản chất chính sách đối ngoại của Việt Nam dưới thời ông Tô Lâm được xây dựng đặt trên nền móng mà Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã dày công xây dựng trong suốt ba nhiệm kỳ.
"Điểm khác biệt lớn nhất ở đây đơn giản chỉ là Việt Nam đã nâng tầm ngoại giao lên hàng trọng yếu và thường xuyên và bảo vệ tổ quốc từ sớm và từ xa. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là vị thế Việt Nam bây giờ đã khác, và Việt Nam hoàn toàn có thể tự tin làm cầu nối giữa các bên," ông lập luận.
Bản thân "ngoại giao cây tre" cũng đã hình thành trước thời ông Nguyễn Phú Trọng rất lâu.
Sau thời kỳ "nhất biên đảo" với chủ trương đứng hẳn về phe xã hội chủ nghĩa trong suốt nửa cuối thập niên 1970 và thập niên 1980, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thay đổi cách tiếp cận. Tại Đại hội 7 vào năm 1991, Việt Nam đã "muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".

Getty/BBC
Kể từ khi lên nắm quyền, ông Tô Lâm được đánh giá là đã thực hiện một loạt thay đổi "chưa từng có" về ngoại giao lẫn nội trị, khác biệt với thời ông Nguyễn Phú Trọng
Dùng quyền lực mềm đổi ủng hộ quốc tế?
Theo góc nhìn học thuật, các quốc gia đang phát triển muốn gia tăng ảnh hưởng toàn cầu thường sử dụng các diễn đàn đa phương và ngoại giao mang tính biểu tượng để tích lũy uy tín và tính chính danh về mặt chuẩn mực.
Trong bối cảnh môi trường quốc tế biến động mạnh và cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng phức tạp, Việt Nam buộc phải dựa nhiều hơn vào ngoại giao chủ động và đa phương hóa nhằm phân tán rủi ro và duy trì không gian thương lượng chiến lược.
Tiến sĩ Xuân Khang cho rằng trong bối cảnh Việt Nam hiện không có khả năng chạy đua vũ trang hay duy trì một quân đội thường trực hơn một triệu quân, như thời Chiến tranh Lạnh, thì việc sử dụng sức mạnh mềm là một cách để khuếch trương hình ảnh Việt Nam và tiết kiệm ngân sách cho quốc phòng.
Nhiều học giả cũng cho rằng các quốc gia đang trỗi dậy về kinh tế như Việt Nam thường sử dụng ngoại giao mang tính biểu tượng và sự tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương để xây dựng tính chính danh đối ngoại.
Theo bà Phumplab, điều này đồng thời cũng có thể củng cố niềm tin và sự ổn định cho đất nước.
"Điểm đáng chú ý trong trường hợp Việt Nam là ngoại giao mềm không diễn ra một các tách rời mà dựa trên nền tảng sức mạnh kinh tế ngày càng gia tăng," bà nhấn mạnh.
Những năm gần đây, Việt Nam được hưởng lợi từ chiến lược Trung Quốc + 1, khi các tập đoàn đa quốc gia dịch chuyển nhà máy gia công của mình ra khỏi Trung Quốc hoặc mở thêm cơ sở ở các nước khác để giảm rủi ro từ việc quá phụ thuộc vào quốc gia Đông Á, đặc biệt là sau bài học "zero Covid" và thương chiến Mỹ-Trung.
Nhờ đó mà Việt Nam, một láng giềng của Trung Quốc, đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thu hút nguồn vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài ở mức rất cao và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong ít nhất khoảng 10 năm nay.
Nhiều học giả về Đông Nam Á cũng nhận định rằng chính thành tựu kinh tế này đã góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
"Đây là điều rất quan trọng, tức là cáC đối tác nhìn nhận Việt Nam như một đối tác lâu dài, có tiềm năng, chứ không chỉ là một quốc gia đang phát triển phụ thuộc vào hỗ trợ bên ngoài.
"Nếu có thể thành công về lĩnh vực này thì Việt Nam sẽ là một đất nước rất thành công trong Đông Nam Á," Tiến sĩ Phumplab đánh giá.
Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu ngày càng biến động, đặc biệt khi quan hệ với các cường quốc mang tính đổi chác nhiều hơn, các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, đã lựa chọn tăng cường ngoại giao cấp cao và tham gia các hoạt động mang tính biểu tượng như một cách để quản lý sự bất định thay vì chỉ nhằm tìm kiếm sự chính danh trong nước.

Getty Images
Việt Nam được biết đến là một trung tâm sản xuất quan trọng ở Đông Nam Á
Việt Nam có thể đóng góp gì?
Với phương châm "đóng góp, định hình, dẫn dắt", câu hỏi đặt ra là Việt Nam có thể làm gì để vượt ra khỏi vai trò tham gia thụ động trong các cơ chế quốc tế.
Tiến sĩ Xuân Khang cho rằng Việt Nam, ngoài việc tham gia các cơ chế đa quốc gia, có thể tăng cường ảnh hưởng và uy tín trên trường quốc tế, bằng cách trở thành cầu nối giữa các quốc gia hoặc chia sẻ kinh nghiệm cải cách và phát triển kinh tế với các nước khác.
"Việt Nam được coi là một trong những quốc gia hiếm hoi trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương có quan hệ hữu hảo với cả Mỹ, Trung Quốc, Nga hay kể cả với hai miền Triều Tiên.
"Đối với những nước ở châu Phi hoặc những nước phát triển chậm hơn Việt Nam, họ có thể thấy được là một đất nước từng trải qua chiến tranh, hậu thuộc địa cũng có thể đạt được phát triển kinh tế tốc độ thần kì, miễn là có thể duy trì ổn định an ninh chính trị và một đường lối đối ngoại độc lập và hòa bình," ông Khang phân tích.
Khi tính đến ảnh hưởng trên trường quốc tế, Tiến sĩ Phumplab cho rằng Việt Nam có tiềm năng với tư cách là một quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á và đang từng bước vươn lên.
Theo chuyên gia này, hiện tại Việt Nam chưa ở vị thế định hình trật tự thế giới như các cường quốc, nhưng hoàn toàn có thể dẫn dắt trong một số lĩnh vực cụ thể.
Trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam được đánh giá là có thể trở thành một trong những quốc gia đóng vai trò nổi bật hơn, đặc biệt trong các vấn đề như là an ninh biển, biển đổi khí hậu, kinh tế số và đổi mới sáng tạo, hoặc các lĩnh vực an ninh phi truyền thống nhằm ứng phó với dịch bệnh, thiên tai...
"Tôi nghĩ rằng Việt Nam có thể chưa phải là một cường quốc, nhưng có tiềm năng trở thành quốc gia dẫn dắt theo từng lĩnh vực trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế xanh, chuyển đổi số và các hình thức an ninh mới.
"Nếu Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng kinh tế và ổn định trong nước, thì theo tôi tham vọng trở thành một quốc gia phát triển theo mô hình các nước Đông Á là hoàn toàn có thể đạt được trong dài hạn," bà Phumplab kết luận.
Chủ đề liên quan
Tin liên quan


Ngoại giao thời Tô Lâm: Xoay xở thế nào giữa Trung Quốc và Mỹ3 tháng 8 năm 2025

Việt Nam với 'ngoại giao thức thời': từ hình tượng cây tre đến chiến lược quốc gia23 tháng 6 năm 2025

EU 'xem xét chuyển giao công nghệ quốc phòng' cho Việt Nam28 tháng 1 năm 2026

Việt Nam và Anh sẽ nâng cấp lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện khi ông Tô Lâm thăm London23 tháng 10 năm 2025

Ông Tập Cận Bình hoan nghênh 'tương lai chung' với Việt Nam sau khi ông Tô Lâm tái đắc cử24 tháng 1 năm 2026
No comments:
Post a Comment