VNTB – Cuộc đời ẩn giấu của Fidel Castro ( kỳ 1)Tác giả: Juan Reinaldo Sánchez
Khôi Nguyễn biên dịch
15.02.2026 2:2
VNThoibao
(VNTB) – Sanchez nói rằng ông đã mắc sai lầm khi bảo vệ tính mạng “của một người đàn ông… bị chi phối bởi cơn sốt quyền lực tuyệt đối và sự thiếu tôn trọng” đối với người dân Cuba.
Fidel Castro, lãnh tụ độc tài Cuba nổi tiếng với câu nói ” Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng máu của mình” trong cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Bắc Việt. Tượng đài Fidel vẫn sừng sững trong lòng nhiều thế hệ người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng mặt trái cuộc đời của Fidel trong cuốn hồi ký của một cựu cận vệ lại bộc lộ một cuộc đời khác hẳn của một “ông vua cộng sản” mà người dân thường ít ai biết được.
Cuốn hồi ký “Cuộc đời hai mặt của Fidel Castro” được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2014. Cuốn hồi ký này tiết lộ cuộc sống riêng tư và tài sản khổng lồ của Fidel Castro, cũng như những bí mật nhà nước và các mối quan hệ trai gái phức tạp mà tác giả đã chứng kiến.
Việt Nam Thời Báo xin lần lượt giới thiệu những câu chuyện về mặt trái của cuộc đời Chủ tịch Fidel, “người bạn lớn” thân thiết, thủy chung của nhân dân Việt Nam.
1. Cayo Piedra, hòn đảo thiên đường của dòng họ Castro
Du thuyền của Fidel Castro đang lênh đênh trên biển Caribe, trong vùng nước xanh biếc ngoài khơi bờ biển phía nam Cuba. Chúng tôi vừa nhổ neo mười phút trước đó, và những chú cá heo trắng đã đến cùng chúng tôi. Một đàn chín hoặc mười con đang bơi ở phía mạn phải, ngay sát thân tàu, trong khi một nhóm khác bơi theo cách khoảng ba mươi thước phía sau mạn trái, trông giống hệt như đoàn hộ tống xe chuyên biệt của một nguyên thủ quốc gia trong chuyến thăm chính thức. “Quân tiếp viện đã đến rồi—anh có thể đi nghỉ ngơi đi,” tôi nói với Gabriel Gallegos, chỉ tay về phía những con cá heo đang đang xé nước với tốc độ cao.
Đồng nghiệp của tôi mỉm cười trước câu nói đùa của tôi. Tuy nhiên, ba phút sau, những sinh vật khó đoán này đổi hướng và di chuyển đi, biến mất vào đường chân trời.
“Vừa đến là đã đi rồi! Thật thiếu chuyên nghiệp…”, Gabriel nói đùa.
Cả hai chúng tôi đều là dân chuyên nghiệp. Chúng tôi đã gia nhập đội cận vệ của Tư lệnh mười ba năm trước, vào năm 1977—và ở Cuba, không có gì “chuyên nghiệp” hơn, phát triển hơn, hay quan trọng hơn việc bảo vệ nguyên thủ quốc gia. Fidel chỉ cần đi một chuyến ra biển, dù chỉ là một chuyến câu cá hay săn bắn dưới nước, cũng phải có một hệ thống phòng thủ quân sự ấn tượng được đưa vào hoạt động.
Và vì vậy, du thuyền Aquarama II—du thuyền của Fidel Castro—luôn có hai tàu hộ tống là Pioniera I và Pioniera II đi theo. Hai chiếc tàu cao tốc mạnh, gần như giống hệt nhau, dài 15 mét, một trong hai chiếc này được trang bị đầy đủ mọi phương tiện chăm sóc y tế để đối phó với bất kỳ vấn đề sức khỏe nhỏ nhất nào có thể phát sinh.
Mười thành viên của đội cận vệ cá nhân của Fidel, đội quân tinh nhuệ của tôi, được chia đều giữa ba chiếc tàu này—cũng giống như trên đất liền khi chúng tôi được chia đều ở ba chiếc ô tô. Tất cả các tàu đều được trang bị súng máy hạng nặng và kho lựu đạn, súng trường Kalashnikov AK-47 và đạn dược để chuẩn bị cho bất kỳ tình huống nào. Kể từ khi bắt đầu Cách mạng Cuba, Fidel Castro đã sống dưới mối đe dọa bị tấn công: CIA thừa nhận đã lên kế hoạch cho hàng trăm vụ ám sát, liên quan đến thuốc độc hoặc bút máy và xì gà .
Xa hơn một chút ngoài khơi, một tàu tuần tra cứu hộ cũng được triển khai, cung cấp giám sát radar hàng hải và trên không của khu vực và được lệnh chặn bất kỳ tàu thuyền nào đến gần ít nhất ba hải lý tính từ Aquarama II. Lực lượng không quân Cuba cũng tham gia: tại căn cứ không quân Santa Clara, cách đó khoảng sáu mươi dặm, một phi công trong trang bị chiến đấu được đặt trong tình trạng báo động đỏ, sẵn sàng bất cứ lúc nào nhảy vào chiếc MiG-29 do Nga sản xuất để cất cánh trong vòng chưa đầy hai phút và đến Aquarama II với tốc độ siêu âm.
Hôm đó là một ngày nắng đẹp giữa mùa hè năm 1990, năm thứ ba mươi hai dưới triều đại của Fidel Alejandro Castro Ruz, khi đó 63 tuổi. Bức tường Berlin đã sụp đổ vào mùa thu năm trước; Tổng thống Mỹ George W. Bush đang chuẩn bị phát động Chiến dịch Bão Sa mạc. Về phần mình, Fidel Castro đang du ngoạn đến hòn đảo riêng, tối mật của ông, Cayo Piedra, trên chiếc du thuyền hạng sang duy nhất của nước Cộng hòa Cuba.
Được đưa vào sử dụng vào đầu những năm 1970, Aquarama II là một chiếc du thuyền thanh lịch với thân tàu màu trắng dài 27,4 mét, một bản sao lớn hơn của chiếc du thuyền Aquarama I.
Chiếc du thuyền này đã bị tịch thu từ một người có liên quan đến chế độ của Fulgencio Batista—chế độ bị cuộc Cách mạng Cuba lật đổ vào ngày 1 tháng 1 năm 1959. Cuộc cách mạng Cuba do Fidel và khoảng sáu mươi chiến binh Barbudo khởi xướng hai năm rưỡi trước đó trong rừng rậm Sierra Maestra.
Ngoài hai cabin đôi—một là cabin của Fidel, được trang bị phòng tắm riêng—chiếc du thuyền có thể chứa được thêm mười hai người khác. Sáu chiếc ghế bành trong phòng khách chính có thể chuyển thành giường, và có hai giường trong phòng liên lạc vô tuyến và bốn giường nữa trong cabin dành riêng cho thủy thủ đoàn ở mũi tàu. Giống như tất cả các du thuyền hạng sang, Aquarama II có đầy đủ tiện nghi hiện đại: điều hòa không khí, hai phòng tắm, nhà vệ sinh, tivi và quầy rượu.
So với những món đồ chơi xa xỉ của giới nhà giàu mới nổi người Nga và Ả Rập Xê Út đương thời thường du ngoạn khắp vùng biển Caribbean hay Địa Trung Hải, thì Aquarama II, dù được trang hoàng lộng lẫy theo phong cách “cổ điển”, có lẽ trông vẫn lỗi thời.
Nhưng vào những năm 1970, 1980 và 1990, chiếc du thuyền hạng sang này, được trang trí hoàn toàn bằng gỗ quý hiếm nhập khẩu từ Angola, có thể sánh ngang với bất kỳ chiếc du thuyền nào neo đậu tại các bến cảng ở Bahamas hay Saint-Tropez. Thậm chí, nó còn có mã lực vượt trội hơn hẳn. Bốn động cơ của du thuyền giống hệt với những động cơ được trang bị trên các tàu tuần tra của hải quân Liên Xô và do lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev tặng cho Fidel Castro. Ở công suất tối đa, Aquarama II đạt tốc độ phi thường, khoảng 42 hải lý/giờ, hay gần 80km/giờ.
Hầu như không ai ở Cuba biết đến sự tồn tại của chiếc du thuyền này, bến neo đậu chính là một con lạch tư nhân, vô hình và người bình thường không thể tiếp cận được. Con lạch này, nằm ở phía đông của Vịnh Con Heo nổi tiếng, cách Havana khoảng 90 dặm về phía đông nam. Kể từ những năm 1960, bến du thuyền riêng của Fidel đã được giấu kín ở đây, giữa một khu vực quân sự và được giám sát chặt chẽ. Địa điểm này, được đặt tên là La Caleta del Rosario, cũng là nơi tọa lạc của một trong nhiều ngôi nhà nghỉ mát của ông và, có một bảo tàng cá nhân nhỏ dành riêng cho các chiến lợi phẩm từ các chuyến câu cá của Fidel.
Từ bến du thuyền này đến hòn đảo thiên đường Cayo Piedra mất bốn mươi lăm phút.
Tôi đã đi hàng trăm chuyến đến hòn đảo này. Mỗi lần như vậy, tôi đều bị cuốn hút bởi màu xanh rực rỡ của bầu trời, nước biển tinh khiết và vẻ đẹp của đại dương sâu thẳm. Thường thì, cá heo sẽ đến chào đón chúng tôi, bơi lội bên cạnh du thuyền rồi lại rời đi.
Chúng tôi thường chơi trò xem ai có thể phát hiện ra chúng trước: ngay khi ai đó hét lên ¡Aquí están! (Ở đây!), chúng sẽ xuất hiện. Chim bồ nông thường bay theo chúng tôi từ bờ biển Cuba đến tận Cayo Piedra, và tôi rất thích quan sát chuyến bay nặng nề, có phần vụng về của chúng.
Đối với các thành viên khác của lực lượng quân đội Cuba này, chuyến vượt biển kéo dài 45 phút đó là một khoảng thời gian được thư giãn đáng giá; bảo vệ một người khó tính như Fidel đòi hỏi sự cảnh giác liên tục và không cho phép bất kỳ sự lơ là nào.
El Jefe (ông chủ), như chúng tôi gọi ông khi không có người ngoài, thường ngồi trên chiếc ghế bành lớn màu đen ở trong phòng khách chính đầy sang trọng. Chưa từng có người nào khác ngồi vào chiếc ghế này. Một tay cầm ly rượu whisky đá, thức uống yêu thích của ông, ông sẽ đắm mình trong những báo cáo tóm tắt từ các cơ quan tình báo, xem xét lại báo chí quốc tế do nội các của ông chuẩn bị, hoặc xem xét kỹ lưỡng các bức điện tín từ Agence France-Presse, Associated Press và Reuters.
El Jefe cũng sẽ tận dụng cơ hội để thảo luận về các vấn đề thời sự với José Naranjo, phụ tá trung thành được biết đến với biệt danh Pepín, người đã chia sẻ hầu hết mọi khoảnh khắc trong cuộc đời sự nghiệp của ông chủ cho đến khi ông qua đời vì ung thư vào năm 1995.
Tất nhiên, Dalia cũng ở đó. Là mẹ của năm người con của Fidel, Dalia Soto del Valle là người phụ nữ đã bí mật chia sẻ cuộc sống với ông từ năm 1961—mặc dù người dân Cuba không biết đến sự tồn tại của bà cho đến những năm 2000.
Cuối cùng là Giáo sư Eugenio Selman, bác sĩ riêng của Fidel cho đến năm 2010, giáo sư có năng lực chuyên môn và những cuộc trò chuyện chính trị được El Comandante (Tư lệnh) đánh giá cao. Chức năng chính của người đàn ông lịch lãm, chu đáo và được mọi người kính trọng này rõ ràng là chăm sóc sức khỏe của Fidel—nhưng bác sĩ riêng của Fidel cũng chăm sóc sức khỏe cho toàn bộ đoàn tùy tùng của ông.
* * * * * *
Khách, thường là các giám đốc doanh nghiệp hoặc nguyên thủ quốc gia, hiếm khi lên tàu. Trong những dịp hiếm hoi đó, El Comandante sẽ mời khách của mình lên boong trên để chiêm ngưỡng toàn cảnh bờ biển Cuba, đặc biệt là Vịnh Con heo nổi tiếng mà chúng tôi vừa rời đi.
Khi Aquarama II bắt đầu ra khơi, Fidel—một người kể chuyện tài ba—sẽ kể cho khách của mình nghe về cuộc đổ bộ bi thảm xuống cái vịnh Con Heo nổi tiếng đó. Chúng tôi sẽ quan sát ông từ boong sau, khi ông bắt đầu giải thích và chỉ vào các điểm khác nhau của khu vực đầm lầy, đầy muỗi, như một người thầy đang giảng bài lịch sử ngoài trời cho học trò cũ của mình.
“Các bạn thấy ở phía cuối vịnh kia không—đó là Playa Larga! Và ở lối vào phía đông của vịnh là Playa Girón! Chính tại đó, vào lúc 1 giờ 15 phút sáng ngày 17 tháng 4 năm 1961, một toán quân gồm 1.400 người Cuba lưu vong được CIA huấn luyện đã đổ bộ nhằm xâm lược và lật đổ quốc gia. Nhưng không ai ở đây đầu hàng! Người dân đã anh dũng chiến đầu, và sau ba ngày, quân xâm lược buộc phải rút lui về Playa Girón và giao nộp vũ khí.”
Dwight Eisenhower đã lên kế hoạch xâm lược và được phát động vào đầu nhiệm kỳ tổng thống của John F. Kennedy, chiến dịch này đã thất bại hoàn toàn: 1.400 thành viên của đơn vị viễn chinh bị bắt làm tù binh và 118 người thiệt mạng. Về phía Castro, có 176 người chết và vài trăm người bị thương. Đó là một sự sỉ nhục toàn diện đối với Washington. Lần đầu tiên trong lịch sử, “đế quốc Mỹ” phải chịu thất bại quân sự nặng nề, và Fidel Castro đã khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế là nhà lãnh đạo của thế giới đang phát triển. Giờ đây, công khai liên minh với Liên Xô, ông có thể đàm phán với các cường quốc trên cơ sở bình đẳng.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Fidel là một người tham gia vào Lịch sử với chữ L viết hoa, và vị khách của ông, đứng trên boong tàu dưới cái nắng như thiêu đốt, sẽ chăm chú lắng nghe và bị cuốn hút vào từng lời ông nói. Gần như thể chính vị khách ấy cũng đang trải nghiệm lịch sử trực tiếp; chắc chắn sẽ trân trọng suốt đời đoạn ký ức về vài giờ nghỉ ngơi trên du thuyền của Fidel Castro. Sau đó, hai người trở lại phòng khách để gặp Dalia và Giáo sư Eugenio Selman. Đó là lúc thuyền trưởng của Aquarama II giảm tốc độ và nước bắt đầu chuyển sang màu xanh ngọc lục bảo: chúng tôi đã gần đến đảo Cayo Piedra.
(Còn tiếp)
No comments:
Post a Comment