VNTB – Tại sao hố giàu nghèo ngày càng sâu và dân nghèo cần đòi gì?
Chu Đông Gia
05.03.2026 5:49
VNThoibao
Trên giấy tờ, dân làm chủ, “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý”. Trong đời thường, dân sống với lương trung bình khoảng 4-5 triệu đồng/tháng, và hàng chục triệu người vá víu với rất ít phương tiện sống.
“Thu nhập 36 triệu/năm, độc thân, ở trọ, không có gia đình chu cấp. Vẫn sáng uống cafe (hoà tan) rồi đá bát phở (hành). Ngày làm 12 tiếng, tối về lướt Tiktok trên con đt xiaomi 3 triệu. Sống khoẻ!”
Một người lao động bình thường cần làm việc cả nhiều năm để kiếm được số tiền mà một người ở tầng trên cùng kiếm được trong một tuần – hoặc đôi khi chỉ trong một ngày.
Ai có vốn có quyền thì giàu lên theo thời gian, ai làm công thì tay làm hàm nhai hoài hoài. Hố sâu giàu nghèo ngày càng sâu. Tiếng vọng từ đáy vực thì ít ai để ý và hầu như ít người bàn về làm sao để dân nghèo vươn lên.
Những chuyện làm tiền khủng ở bên nhà thì hầu như ai cũng biết, nhưng không chắc ai cũng biết hết những cách làm tiền khủng như thế. Bài này dùng khung lý luận từ Các Mác để liệt kê những cách làm tiền khủng của giai cấp quyền lực trong hệ thống đảng-nhà nước, xem xét hệ quả của việc làm tiền từ đặc quyền hay mạng lưới thân hữu, và đề xuất cách tích vốn cho dân sống bên lề xã hội.
Phần 1: Giai cấp quyền lực và mạng lưới thân hữu làm giàu bằng cách nào?
Bên dưới là tổng kết 7 cách làm tiền khủng của vấn đề “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” theo khung lý luận Các Mác.
1. Làm tiền từ đặc quyền quản lý đất đai và bất động sản
Trong hàng thập niên, đất thuộc “sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý”, nhưng quyền sử dụng đất được giao và cho thuê qua quyết định hành chính và thị trường nửa vời. Cơ chế này tạo khoảng chênh lớn giữa giá đất “trên giấy” và giá thị trường – phần chênh đó là cơ hội làm giàu cho cán bộ các cấp và doanh nghiệp thân hữu thông qua các cách sau: giao đất giá thấp rồi quy hoạch mở đường, giá tăng vọt, lợi nhuận chủ yếu vào tay nhóm có quyền quyết định; dự án “sân sau” giữ đất nhiều năm chờ bán lại kiếm chênh lệch; người dân và doanh nghiệp nhỏ phải “chạy thủ tục” biến mọi bước hành chính thành cơ hội thu phí ngoài luồng.
Hai ví dụ tiêu biểu:
(1) Vụ bán 32 ha đất công ven sông Sài Gòn ở huyện Nhà Bè cho Quốc Cường Gia Lai với giá 419 tỷ đồng trong khi giá thị trường ước tới 2.000 tỷ, tạo khoản chênh lệch khổng lồ chảy vào túi lãnh đạo và doanh nghiệp thân hữu.
(2) Vụ Phúc Sơn ở Vĩnh Phúc, chủ tịch tập đoàn nhiều lần hối lộ lãnh đạo tỉnh và các sở với tổng số tiền hàng chục triệu USD để dìm giá đất dự án nghìn tỷ, biến phần chênh lệch thành lợi ích riêng.
2. Làm tiền từ đặc quyền về tài chính và nợ nần
Nếu bị lũng đoạn, hệ thống ngân hàng, tín dụng và trái phiếu tạo ra nhiều khoản nợ hơn là đầu tư vào sản xuất thực. Những người kiểm soát dòng tín dụng kiếm lời từ lãi suất, phí và đầu cơ thông qua: cho vay ưu đãi, đảo nợ cho doanh nghiệp thân hữu, đẩy rủi ro về phía Nhà nước hoặc người gửi tiền; phát hành trái phiếu và hợp đồng “đối tác công – tư” thiếu minh bạch biến thành nợ công ẩn; đẩy người dân vào bất động sản và chứng khoán tạo bong bóng tài sản, ai có thông tin nội bộ thì hưởng lợi từ chênh lệch giá.
Hai ví dụ tiêu biểu:
(1) Vụ trái phiếu Tân Hoàng Minh: tập đoàn huy động khoảng 14.000 tỷ đồng qua 8 đợt phát hành rồi sử dụng sai mục đích, dẫn đến cáo buộc lừa đảo chiếm đoạt hơn 8.600 tỷ của 6.600 nhà đầu tư.
(2) Vụ Vạn Thịnh Phát – SCB: bà Trương Mỹ Lan chi phối ngân hàng SCB, dùng hơn 1.000 công ty phát hành 25 lô trái phiếu “ma” trị giá khoảng 30.000 tỷ; tiền huy động được dùng để đảo nợ, rót vào dự án địa ốc và chuyển ra nước ngoài, còn rủi ro đổ lên hàng chục nghìn nhà đầu tư.
3. Trục lợi từ vị thế độc quyền và các “trạ m thu phí” kinh tế
Doanh nghiệp nắm vị thế độc quyền trong hạ tầng, dịch vụ công, hay nền tảng số có thể tăng giá mà ít bị cạnh tranh. Họ thu phí cao tận dụng độc quyền để chuyển chi phí sang người tiêu dùng; nhận ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng để xây dựng vị thế rồi chèn ép doanh nghiệp nhỏ; nắm “cửa ngõ” hạ tầng như cảng, logistics, viễn thông biến thành “trạm thu phí” trên dòng lưu thông hàng hóa.
Hai ví dụ tiêu biểu:
(1) Nhiều trạm BOT đường bộ như Cai Lậy, Quốc lộ 5 thu phí cao và đặt sai vị trí, khiến người dân phản đối; mức phí và thời gian thu không tương xứng với chi phí đầu tư thực.
(2) EVN với vị thế độc quyền nhiều lần đề nghị tăng giá điện hoặc hạch toán các khoản lỗ vào giá bán lẻ, đẩy rủi ro sang hàng triệu hộ gia đình trong khi không chịu áp lực cạnh tranh.
4. Trục lợi từ quyền lực hành chính
Khi thủ tục hành chính rườm rà và cán bộ có quyền tùy nghi diễn giải, mỗi con dấu và giấy phép trở thành cơ hội kiếm tiền thông qua: “bôi trơn” để hồ sơ chạy nhanh hoặc tránh bị phạt; biến chuẩn mực kỹ thuật thành công cụ thương lượng gây sức ép doanh nghiệp; bổ nhiệm vị trí “màu mỡ” trong đất đai, thuế, hải quan như một dạng thủ lợi chính trị.
Hai ví dụ tiêu biểu:
(1) Vụ Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế): lãnh đạo và cán bộ bị cáo buộc nhận hơn 94 tỷ đồng hối lộ từ 2018–2024 để hồ sơ công bố sản phẩm thực phẩm chức năng được duyệt nhanh, mỗi bộ hồ sơ “bôi trơn” 5–10 triệu đồng.
(2) Vụ cấp phép xăng dầu ở Bộ Công Thương: một cựu lãnh đạo Cục quản lý thị trường bị kết án vì nhận hơn 14 tỷ đồng để cấp giấy phép phân phối xăng dầu dù doanh nghiệp không đủ điều kiện pháp lý.
5. Trục lợi từ cơ chế “cửa quay” và mạng lưới thân hữu
Khi cán bộ nghỉ hưu chuyển sang doanh nghiệp, hoặc doanh nhân trở thành đại biểu, mạng lưới quan hệ chính trị biến thành tài sản kiếm tiền qua: mời cựu cán bộ làm “cố vấn” để mở đường tiếp cận đất, dự án, tín dụng; đứng tên hộ cổ phần, tài sản cho người nhà quan chức; dùng tổ chức trung gian như hiệp hội, quỹ làm kênh kết nối lợi ích.
Hai ví dụ tiêu biểu:
(1) Nhiều quan chức cấp cao sau khi nghỉ hưu “hạ cánh” vào ghế chủ tịch hoặc cố vấn tại ngân hàng, tập đoàn lớn; mạng lưới quan hệ bên trong bộ máy giúp doanh nghiệp tiếp cận chính sách và tín dụng thuận lợi hơn.
(2) Trong các đại án như Vạn Thịnh Phát hay FLC, chủ doanh nghiệp không chỉ dùng “sân sau” lập hàng trăm công ty vỏ bọc, mà còn lôi kéo lãnh đạo cơ quan quản lý tạo thành mạng lưới thân hữu đan xen giữa khu vực công và tư.
6. Tiêu dùng xa xỉ dựa trên dòng tiền “phi sản xuất”
Tiền tham nhũng và trục lợi được chuyển thành tiêu dùng xa xỉ: biệt thự, xe sang, hàng hiệu, du lịch đắt đỏ – vừa là cách “rửa” vừa tích trữ tài sản.
Hai ví dụ tiêu biểu:
(1) Vụ Trịnh Xuân Thanh: trong thời gian lãnh đạo PVC làm thua lỗ hơn 3.200 tỷ đồng, ông vẫn xuất hiện với xe Lexus biển xanh, trở thành biểu tượng của lối sống xa hoa dựa trên thất thoát vốn nhà nước.
(2) Vụ Xuyên Việt Oil: dù nợ thuế hàng nghìn tỷ, doanh nghiệp vẫn chi hơn 27 tỷ đồng hối lộ, tặng cựu Bí thư Bến Tre đồng hồ Patek Philippe gần 10 tỷ và xe Mercedes S450.
7. Chiến dịch chống tham nhũng và tái cấu trúc trục lợi kinh tế
Các chiến dịch “đốt lò” vừa xử lý nhiều vụ lớn, vừa là quá trình tái sắp xếp quyền lực và kênh trục lợi: một số hình thức tham nhũng lộ liễu giảm; các vụ án lớn cho thấy Nhà nước sẵn sàng xử lý mạng lưới đã “phình to”; song nhiều nghiên cứu cho rằng hệ thống vẫn phụ thuộc vào “bôi trơn” và quan hệ – vấn đề là trục lợi nào được chấp nhận và trục lợi nào vượt ngưỡng.
Hai ví dụ tiêu biểu:
(1) Án tử hình cho Trương Mỹ Lan trong vụ gian lận khoảng 12,5 tỷ USD cho thấy “đốt lò” sẵn sàng đánh vào mạng lưới khổng lồ, nhưng đồng thời khiến quan chức “đóng băng”, sợ ký tá, làm chậm quyết định kinh tế.
(2) Hàng chục nghìn đảng viên bị kỷ luật, chi phí “bôi trơn” có xu hướng giảm, song nhiều ý kiến cho rằng chiến dịch chủ yếu thay đổi cách thức và “mặt bằng chấp nhận được” của trục lợi, hơn là xóa hẳn sự phụ thuộc vào bôi trơn trong đất đai, đấu thầu và cấp phép.
Phần 2: Dư địa nào cho người nghèo?
“Đi anh
thoát khỏi xóm ở trọ này
những mái nhà tole nát nhàu hầm hực mùa nắng
những bức tường loang lổ ẩm mốc mùa mưa
những cống rãnh sình đen, ngõ hẹp nhớp nhơ
bãi rác khổng lồ ngoại ô thành phố
ngọn đèn đường hắt hiu soi nhày nhụa thịt da” (Ái Điểu, Tình ca xóm trọ)
Bài thơ viết về xóm trọ, nhưng cũng viết về một cái bẫy cấu trúc. Người lao động không nghèo vì lười – họ nghèo vì đang chơi trên một sân mà luật chơi được viết cho người khác.
7 cách làm tiền ở Phần 1 không chỉ làm giàu cho tầng trên – chúng đồng thời bào mòn dư địa tích lũy của tầng dưới. Đất bị định giá thấp rồi sang tay, người dân mất tài sản lớn nhất có thể có. Bong bóng bất động sản đẩy giá nhà lên xa tầm với, người trẻ làm công không còn cơ hội mua nhà dù tiết kiệm cả đời. Phí bôi trơn và chi phí không tên ăn vào lợi nhuận của người buôn bán nhỏ, tiểu thương, thợ thủ công. Độc quyền điện, xăng, logistics đội chi phí sản xuất lên khiến doanh nghiệp nhỏ khó sống.
Nói cách khác: hố giàu nghèo không tự nhiên sâu thêm. Nó được đào – mỗi ngày, bằng chính những cơ chế đã liệt kê ở trên.
Điều đáng lo hơn là tính tự động của nó. Ai có vốn và quyền thì vốn sinh vốn, quyền sinh quyền. Ai không có thì thu nhập chỉ đủ tiêu, không đủ tích. Một cú bệnh, một lần thất nghiệp, một đợt giá tăng – là đủ để rơi xuống thêm một bậc. Vậy dư địa nào còn lại? Ít, nhưng không phải không có.
Phần 3. Đề xuất cách dồn vốn xuống đáy – bài học từ Bangladesh và Ấn Độ
Trong khi tầng trên tích lũy của cải qua đặc quyền và quan hệ, câu hỏi đặt ra là: có cách nào để dồn vốn xuống tầng dưới không – không phải bằng từ thiện, mà bằng cơ chế tài chính thực sự?
Bangladesh và Ấn Độ đã thử, và có kết quả. Grameen Bank của Muhammad Yunus từ thập niên 1980 cho hàng triệu phụ nữ nghèo vay vốn nhỏ – không cần tài sản thế chấp, chỉ cần tổ nhóm bảo lãnh nhau. Tỷ lệ hoàn trả cao hơn nhiều ngân hàng thương mại. Mô hình này chứng minh một điều đơn giản: người nghèo không phải không đáng tin – họ chỉ đang bị loại khỏi hệ thống tín dụng chính thống.
Nhưng microfinance không phải thuốc tiên. Ở Andhra Pradesh năm 2010, cho vay vi mô bùng phát không kiểm soát, lãi suất leo thang, dẫn đến hàng trăm vụ tự tử vì nợ. Bài học rõ ràng: nếu microfinance chạy theo lợi nhuận mà thiếu giám sát, nó chỉ là một “trạm thu phí” khác – nhỏ hơn nhưng đánh vào người dễ tổn thương nhất.
Việt Nam không thiếu mô hình tương tự – Ngân hàng Chính sách Xã hội, tổ vay vốn của Hội Phụ nữ – nhưng quy mô còn nhỏ và vẫn lệ thuộc vào bộ máy hành chính. Để thực sự hiệu quả, những mô hình này cần được trao quyền hoạt động độc lập, minh bạch, và đủ lớn để tạo ra thay đổi có hệ thống.
Và đây chính là chỗ người dân cần lên tiếng: không phải xin, mà đòi – đòi một hệ thống tài chính không chỉ phục vụ tầng trên.
No comments:
Post a Comment