Kinh tế thị trường định hướng XHCN là gì?Phạm Thế Anh
2-3-2026
Tiengdan
Để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, Việt Nam bắt đầu tiến hành cải cách sâu rộng nền kinh tế vào nửa cuối những năm 1980. Những năm đầu đổi mới, khái niệm “kinh tế thị trường” thường bị né tránh bởi nó được coi là sản phẩm/mầm mống của chủ nghĩa tư bản – thứ mà Việt Nam cố gắng xóa bỏ triệt để những năm trước đó.
Thay vì thừa nhận kinh tế thị trường ngay, các uyển ngữ lần lượt được đưa ra qua các kỳ đại hội Đảng cộng sản (ĐCS), đó là: “Nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch, gồm nhiều thành phần” vào năm 1986 hay “Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” vào năm 1991.
Mãi đến năm 2001, Việt Nam mới chính thức sử dụng khái niệm kinh tế thị trường nhưng gắn thêm “định hướng XHCN”. Thuật ngữ được sử dụng chính thức là “Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Nòng cốt/chủ đạo của nền kinh tế này, tất nhiên rồi, là kinh tế nhà nước (tiếp sau là kinh tế tập thể).
“Kinh tế thị trường định hướng XHCN” không phải là một học thuyết hay chủ thuyết kinh tế, nó chỉ là một cách thực hành kết hợp giữa kinh tế thị trường với các mục tiêu xã hội – chính trị cụ thể.
Kinh tế thị trường định hướng XNCH không có một hệ thống lý luận khép kín, không có bộ giả định nền tảng nhất quán, không có khả năng giải thích phổ quát các hiện tượng và sự vận hành của nền kinh tế như học thuyết Kinh tế học cổ điển (gắn với bàn tay vô hình của Adam Smith), hay học thuyết Marxist (nhấn mạnh đến mâu thuẫn giai cấp và vai trò của quan hệ sản xuất của Karl Marx). Do vậy, việc so sánh Kinh tế thị trường định hướng XHCN với các học thuyết trên là không nên, là coi thường các nhà “ní nuận nỗi nạc”.
So sánh “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” với các học thuyết kinh tế Cổ điển hay Marxist cũng giống như so sánh các tín ngưỡng dân gian (không có hệ tư tưởng/kinh điển thống nhất) với các tôn giáo (Phật giáo hay Cơ đốc giáo).
Những thành tựu kinh tế nổi bật nhất của Việt Nam trong 40 năm đổi mới là đến từ các biện pháp phát triển nền kinh tế thị trường như tháo dỡ các cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tự do hóa giá cả (để phân bổ nguồn lực một cách tối ưu), phi tập thể hóa nông nghiệp, thừa nhận kinh tế tư nhân, và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Sự phân biệt rõ nhất giữa Kinh tế thị trường và Kinh tế thị trường định hướng XHCN là ở việc xác định vai trò của kinh tế nhà nước. Đã có thời Việt Nam sử dụng doanh nghiệp nhà nước (thay cho các công cụ tài khóa và tiền tệ) để điều tiết cung/cầu, kiểm soát giá cả, ưu đãi tiếp cận/phân bổ nguồn lực,… Hậu quả là:
1/ Chức năng điều hành vĩ mô bị doanh nghiệp hóa. Thay vì sử dụng các công cụ phổ quát như thuế, chi tiêu công, hay lãi suất, Nhà nước can thiệp trực tiếp thông qua mệnh lệnh và ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhà nước. Điều này làm méo mó tín hiệu giá, từ đó làm suy giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực của toàn nền kinh tế.
2/ Kỷ luật tài chính bị phá vỡ. Khi doanh nghiệp nhà nước vừa mang chức năng kinh doanh vừa gánh nhiệm vụ chính sách, thua lỗ dễ được biện minh bằng “mục tiêu ổn định” hay “vai trò chủ đạo”. Cơ chế bảo lãnh ngầm, cấp vốn ưu đãi hay nhà nước đi vay rồi cho vay lại đã làm mờ ranh giới rủi ro, khuyến khích đầu tư dàn trải và tích tụ nợ xấu. Hàng loạt Doanh nghiệp nhà nước lớn đã thua lỗ, phá sản vì nguyên nhân này trong giai đoạn 2009-2011.
3/ Chính sách tài khóa và tiền tệ bị suy yếu. Các công cụ vĩ mô hiện đại chậm phát triển, thiếu tính minh bạch và khả năng truyền dẫn, rủi ro hệ thống bị dồn nén và bộc lộ muộn và làm tăng nguy cơ khủng hoảng.
No comments:
Post a Comment