VNTB – Sẽ kết nối camera của dân với công an xã theo “cơ chế thỏa thuận”
Kimi Yang
31.03.2026 3:59
VNThoibao
“Bánh canh” là một tiếng lóng dường như quen thuộc đối với giới “xã hội dân sự” ở Việt Nam. Khi một “đối tượng” được xem là đặc biệt, mỗi khi có những sự kiện sắp và đang xảy ra, trước cửa nhà, sẽ xuất hiện một lực lượng “không quản nắng mưa” theo dõi và ghi hình; nếu có di chuyển trên đường, cũng sẽ có người sẵn sàng đi theo “hộ tống”. Tuy nhiên, với quyết định mới, từ năm 2028, “bánh canh” sẽ không còn phải cực khổ, chỉ cần ngồi một chỗ cũng có thể kiểm soát được tình hình.
Cụ thể, ngày 28.3.2026, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng đã ký Quyết định số 502/QĐ-TTg phê duyệt Phương án kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống camera giám sát an ninh, trật tự, xử lý vi phạm và điều hành giao thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và chia sẻ dữ liệu với Trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh.
Đáng chú ý, dữ liệu từ các hệ thống camera của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn được chia sẻ theo cơ chế thỏa thuận thông qua các điểm tập trung kết nối đến trung tâm camera giám sát của công an cấp xã, bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật về an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Thế nào là “cơ chế thỏa thuận”?
Trong Quyết định 502/QĐ-TTg và Phương án kèm theo, cụm từ “cơ chế thỏa thuận” được nhắm đến tựa như một nguyên tắc, nhưng lại chưa có quy định chi tiết về quy trình thực hiện thỏa thuận đó như thế nào.
Thoả thuận, theo Từ điển Tiếng Việt, là đồng ý với nhau về điều nào đó có quan hệ đến các bên, sau khi đã bàn bạc. Thỏa thuận thường được thể hiện qua ba hình thức: văn bản, lời nói (miệng), hoặc hành vi cụ thể (hợp đồng điện tử/ngầm định). Vậy thoả thuận trong Quyết định trên sẽ được xác lập bằng hình thức nào, bằng văn bản, qua ứng dụng (như VNeID), hay chỉ là sự đồng ý miệng với công an khu vực?
Bên cạnh đó, nội dung thỏa thuận cũng là một phần không bỏ qua. Quy định chưa làm rõ liệu người dân có quyền lựa chọn chia sẻ từng phần (camera cổng) hay buộc phải chia sẻ toàn bộ hệ thống?
Ngoài ra, “ngắt kết nối” hoặc giới hạn khung giờ chia sẻ cũng là một câu hỏi. Liệu công dân có quyền chủ động quản lý thời gian chia sẻ dữ liệu hay một khi đã “hoà làm một” thì quyền kiểm soát hoàn toàn thuộc về hệ thống trung tâm?
“Nếu vì một lý do bất khả kháng, camera của tôi bị ngắt thì có cần phải giải thích lý do với cơ quan chức năng hay không? Lỡ xui hơn lúc đó có chuyện xảy ra thiệt thì liệu sẽ gia đình tui có bị nghi ngờ hay không?”, ông TN thắc mắc.
Bỏ hết trứng vô cùng một giỏ
Nhắc đến camera, một trong số những lo ngại lớn về mặt kỹ thuật đó chính là bảo mật thông tin cũng như sự cố rò rỉ dữ liệu. Thay vì dữ liệu được phân tán ở từng hộ gia đình, doanh nghiệp như hiện nay thì kết nối hàng triệu camera xã hội hoá vào cùng một mối, có thể sẽ trở thành đối tượng tấn công hàng đầu của các nhóm tội phạm mạng.
Đó là chưa kể đến, việc kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư, những khuôn mặt xuất hiện trong từng thước phim không còn đơn thuần là hình ảnh vô danh, mà được xác định rõ ràng danh tính, số định danh, địa chỉ. Một khi có sự cố xảy ra, sẽ khó hơn trong vấn đề khắc phục khi có những thông tin (như dấu vân tay, mống mắt) gần như là bất biến, khác hẳn việc thay đổi mật khẩu một email khi bị hack.
“Nếu không vi phạm quyền riêng tư, tôi nghĩ tôi sẵn sàng chia sẻ dữ liệu. Tuy nhiên, trình độ hacker giờ cũng không phải dạng vừa. Nếu như dữ liệu cá nhân và gia đình của tôi bị rò rỉ, thay vì chỉ nghi ngờ camera nhà mình bị hack, giờ đây tôi cũng sẽ có cái quyền được nghi ngờ sự rò rỉ đó có thể do công tác bảo mật của cơ quan chức năng cấp xã còn kém không? Lúc đó, liệu công đạo có được rõ ràng?”, một cư dân giấu tên chia sẻ.
Tạm gác lại những điều còn lo ngại hay chưa rõ ràng, khi góc phố, đường hẻm, lòng lề đường, hiên nhà… tràn ngập những camera giám sát của các cơ quan chức năng thì người dân sẽ phải tự kiểm duyệt mọi lúc mọi nơi. Vì biết đâu hành vi khi lỡ miệng lỡ tay lại vô tình thành bằng chứng bất lợi cho bản thân và gia đình.
No comments:
Post a Comment