VNTB – “Người thợ có văn hoá” ở đâu?Diễm My
28.03.2026 7:56
VNThoibao
Đọc bài hồi ký về trường Trung học Kỹ thuật Đà Nẵng của ông Đỗ Duy Ngọc và bối cảnh giáo dục miền Nam Việt Nam những năm 1960, chúng ta có thể thấy sự đối lập rõ nét giữa hai mô hình giáo dục thời đó và hiện nay. Đọc để rồi thấy bồi hồi, tiếc nuối cho một nền giáo dục đã bị mai một và day dứt không nguôi cho thực trạng giáo dục hiện nay.
Với triết lý “Thực học- Thực Nghiệp”, giáo dục Trung học Kỹ thuật những năm 60 của thế kỷ trước coi trọng học đi đôi với hành và giá trị của người lao động có tri thức được đánh giá cao. Ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ song song hai mô hình giáo dục: Trung học Phổ thông và Trung học Kỹ thuật với mục tiêu đào tạo là lớp thợ vừa lành nghề vừa giàu văn hoá và đạo đức.
Cơ sở đào tạo được đầu tư với trang thiết bị hiện đại với viện trợ từ Mỹ đáp ứng cho nhu cầu dạy văn hoá và nghề cho học sinh. “Ngay từ 12 hay 14 tuổi, học sinh Trường Kỹ Thuật đã được hướng nghiệp một cách có bài bản, được huấn luyện, dạy dỗ và trang bị những bước cơ bản cho ngành nghề tương lai của cuộc đời.”
Điều cốt lõi của mô hình giáo dục nghề song song khi ấy là đào tạo một lớp “người thợ có văn hoá” và là “trí thức lao động”. Họ” quen với kỷ luật lao động trước khi bước vào đời” nhưng “không bị tách khỏi thế giới của tri thức” vì họ cũng đọc sách, cũng có khả năng suy nghĩ. Sự chính xác, kỷ luật lao động, và lòng tự trọng từ trong trường học đã cho ra đời một loạt nhưng người thợ tài hoa mà khi nhìn lại, ai cũng tràn đầy lòng tự hào là một sản phẩm trí thức của nền giáo dục nhân văn khi ấy.
Có so sánh mới thấy được giáo dục hiện nay càng mang lại nuối tiếc cho một nền giáo dục đã bị khai tử.
Ngày nay, với mô hình “đại học hóa”, cái được coi trọng là lý thuyết suông và bằng cấp. Chỉ có tốt nghiệp đại học mới được coi là thành công, và thành công hơn nữa là phải có bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ hay cao hơn nữa. Vì vậy các trường nghề bị xếp xó, đồng nghĩa với suy nghĩ chỉ có học không nổi mới phải đi học nghề. Kết quả là Việt Nam giờ đây thừa thầy, thiếu thợ, dù là cử nhân nhưng vẫn thất nghiệp do không tìm được việc làm phù hợp hoặc phải chấp nhận làm việc trái ngành.
Trường nghề không được đầu tư đồng đều, không được đầu tư phù hợp với sự phát triển của công nghệ trong thời đại kỹ thuật số. Bên cạnh đó, tuy là trường nghề nhưng vẫn chú trọng lý thuyết hơn là thực hành, tạo ra sản phẩm thật có giá trị và có độ chính xác cao. Điểm số, và thành tích vẫn là những ưu tiên ở trường nghề cũng như các trường trung học thông thường.
Các trường cao đẳng nghề còn có các môn học bắt buộc là Triết học Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là các môn học chung nằm trong chương trình đào tạo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để đảm bảo kiến thức nền tảng chính trị cho sinh viên. Nhưng chỉ với vai trò định hướng tư tưởng chính trị, các môn này chỉ để đảm bảo sự ổn định và thống nhất về định hướng xã hội chủ nghĩa mà không đào tạo ra được người thợ giỏi kỹ năng và có đạo đức nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Những năm 60 và đầu những năm 70, học sinh trường nghề tuy không có bằng kỹ sư, nhưng lại là người thợ biết xem bản vẽ, có văn hoá để xử sự. Trong khi đó những cử nhân cao đẳng-đại học của thời đại Hồ Chí Minh lại là những “tri thức bàn giấy đúng nghĩa” vì thiếu kỹ năng thực tế, giỏi nói hơn làm.
Khi ra trường những cử nhân nửa thầy nửa thợ thời nay thường lại không hài lòng với vị trí làm thợ, và muốn làm thầy thì lại chưa có thể với tới, dẫn tới tình trạng bất mãn, nghỉ việc ngay cả khi chưa thực sự bắt đầu. Nguồn lực đã bị lãng phí trong bối cảnh các khu công nghiệp, hay các công ty công nghệ cao lại thiếu thợ giỏi có khả năng làm việc độc lập.
Những người thợ có văn hoá xưa đã được dạy thông qua các chương trình kỹ thuật về thái độ làm việc coi trọng độ chính xác cao để duy trì cả một hệ thống như các nền giáo dục tiên tiến ở Đức, Nhật luôn chú trọng. Nhờ các kỹ năng mềm ngoài chương trình đào tạo nghề và khả năng tự học, những người thợ văn hoá xưa không bị đào thải. Họ có khả năng tự nâng cấp bản thân nhờ nền tảng văn hoá, toán, lý và ngoại ngữ.
Dù học từ trường nghề, nhưng họ đều là những người thợ có văn hoá, được đào tạo bài bản. Dù là thợ máy, thợ cơ khí, thợ may hay chỉ là một người nội trợ họ đều có thể ngẩng cao đầu vì làm gì họ cũng là những “người trí thức hiểu rất rõ giá trị của kết quả từ bàn tay lao động có tri thức”, “những người làm nhiều, nói ít”.
Xã hội đang thiếu những người biết làm biết nghĩ. Không hiếm những bản tin về các doanh nghiệp nước ngoài lại không thể tuyển được lao động có tay nghề và trình độ cao ở trong một đất nước có hơn 100 triệu dân. Nhân lực là một thách thức lớn cho thị trường lao động Việt Nam. Với các sản phẩm giáo dục như hiện tại, nhân lực Việt Nam không thể đáp ứng cho các nhà máy công nghệ cao chứ chưa nói đến khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ.
Ông Đỗ Duy Ngọc tiếc không cho riêng ông mà tiếc “một mô hình giáo dục hướng nghiệp rất tốt cho học sinh khi mới bước vào trung học, nhưng đã không được tiếp tục, đã bị đứt gãy và được thay thế những thứ thiếu thực tiễn, nặng phô trương. Và đó cũng là nỗi tiếc nuối không chỉ của riêng ông.
Để có thể lại có được một kiểu người biết làm biết nghĩ, đã tới lúc Giáo dục Việt Nam phải xé đi làm lại. Xé đi bản nháp nhàu nhĩ của nền giáo dục 50 năm qua, để quay qua mô hình giáo dục “rất hiện đại, rất hợp lý, rất nhân bản, rất thực tiễn” của mô hình đào tạo kép giúp con người biết làm việc một cách tử tế và có ý thức kỷ luật ngay từ khi còn trẻ.
No comments:
Post a Comment