Thursday, March 26, 2026

VNTB – Nga: Thách thức lệnh trừng phạt của Mỹ
Mai Linh biên dịch
26.03.2026 6:53
VNThoibao

 (VNTB) – Hợp tác năng lượng Nga–Việt Nam được lý giải như một dấu hiệu rõ nét của địa chính trị mới.

Bài viết “Chiến lược Việt Nam của Nga – Thách thức ngày càng lớn đối với lệnh trừng phạt Mỹ và chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” phân tích việc Nga đẩy mạnh hợp tác năng lượng với Việt Nam không chỉ là một động thái kinh tế, mà là một chương trình chiến lược nhằm tái khẳng định ảnh hưởng toàn cầu dưới áp lực trừng phạt phương Tây, đồng thời đặt ra thách thức lớn cho lệnh cấm vận do Mỹ dẫn dắt và chiến lược “kiềm chế” ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

 

1. Ngoại giao năng lượng và “bàn đạp” vào Việt Nam

Trong chuyến thăm Moscow của Thủ tướng Phạm Minh Chính mới đây, hai nước dự kiến ký thêm nhiều hợp đồng trong lĩnh vực dầu khí, điện hạt nhân và LNG( dầu khí hoá lỏng), mở rộng từ thăm dò, khai thác sang chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng cơ sở hạ tầng nhập khẩu, lưu trữ khí tự nhiên hóa lỏng bên cạnh hỗ trợ chính trị cho Việt Nam.

Nga sử dụng “ngoại giao năng lượng” để khôi phục nguồn thu dài hạn từ xuất khẩu dầu, khí, điện và thiết bị hạt nhân. Thêm vào đó là duy trì sự phụ thuộc của Việt Nam vào cơ sở hạ tầng Nga, đồng thời giúp Nga không còn bị cô lập về kinh tế khi ký kết các hợp đồng song phương với Việt Nam. 

Tất cả đều nhằm giúp cho Nga mở rộng ảnh hưởng ở châu Á, làm suy yếu áp lực kinh tế của Mỹ, cũng như bù đắp những tổn thất do lệnh trừng phạt của phương Tây gây ra.

 

2. Việt Nam tận dụng cơ hội 

Việt Nam không chọn về phe với Nga, mà đang theo một chiến lược “đa phương, đa hướng”: mở rộng hợp tác với các cường quốc lớn để tăng tính tự chủ, không bị phụ thuộc một bên nào.

Việc Hà Nội chấp nhận các đề nghị của Nga về năng lượng, công nghệ, tài chính linh hoạt được phân tích là một lựa chọn thực dụng, ưu tiên an ninh năng lượng, ổn định tăng trưởng hơn là phục tùng một trật tự địa chính trị do Mỹ thiết kế.

Với động thái này, Việt Nam có thể trở thành “ hình mẫu” cho các nước Nam bán cầu trong việc vừa hợp tác với Nga, vừa có thể né các lệnh trừng phạt, nhưng vẫn duy trì quan hệ với Mỹ, EU, các đối tác phương Tây.

 

3. Làm suy yếu lệnh trừng phạt và chiến lược “kiềm chế” của Mỹ

Bài nhận định, Moscow không chỉ muốn “trốn” lệnh trừng phạt, mà còn muốn “hạ bệ tính toàn cầu” của các biện pháp này. Bằng cách xây dựng mạng lưới năng lượng, thương mại, cơ sở hạ tầng thay thế, Nga giúp tạo nên một hệ thống kinh tế song song – nơi các lệnh cấm vận phương Tây mất hiệu lực, việc thực thi rời rạc và tuân thủ trở thành thương lượng hơn là mệnh lệnh.

Với Mỹ điều có nghĩa là Mỹ sẽ mất vị thế thị trường, suy yếu chiến lược kiềm chế. Các công ty Mỹ trong lĩnh vực năng lượng, thiết bị, hạ tầng có nguy cơ bị thay thế hoặc ép giá từ các công ty Nga, Trung Quốc, các đối tác thứ ba. Nếu Nga vẫn có thể bán dầu, khí, xây nhà máy điện, hạt nhân cho Việt Nam, thì thông điệp rằng “ai hợp tác với Nga sẽ bị cô lập kinh tế” đã giảm mất hiệu quả.

Ngoài Trung Quốc, Mỹ còn phải đối mặt với một “đối thủ kinh tế linh hoạt” hơn là Nga.  với logic ít điều kiện, ít “đạo đức” hơn, nhưng nhanh, mềm dẻo, sẵn sàng nhượng bộ để giữ thị trường.

 

4. Trật tự phương Tây độc tôn đang thay đổi

Tác giả nhấn mạnh, các thỏa thuận năng lượng Nga–Việt không nên được xem như giao dịch thương mại đơn lẻ, mà là một phần của quá trình chuyển dịch từ hiện diện thương mại sang ảnh hưởng cấu trúc. 

Nga đang chuyển đổi nhu cầu kinh tế thành cơ hội địa chính trị, khai thác những lỗ hổng trong ảnh hưởng của Mỹ và tính thực dụng của các bên tham gia khu vực.

Với Việt Nam, điều đó có nghĩa là tăng không gian thương lượng, tăng khả năng về vị thế cân bằng trong cạnh tranh Mỹ–Nga–Trung. Nhưng Việt Nam cũng có thể gặp rủi ro dài hạn nếu bị ràng buộc quá sâu vào một hệ thống được xem là đối địch với  Washington.

 

5. Đề xuất chính sách cho Mỹ

Để đáp trả, Mỹ không thể chỉ “đứng phía sau” với các lệnh trừng phạt. Thay vào đó Washington cần phải tăng cạnh tranh về kinh tế như cung cấp tài chính, điều kiện, quy trình nhanh hơn, linh hoạt hơn, thay vì chỉ dùng các yêu cầu chính trị và an ninh.

Thêm vào đó tăng thêm vai trò của khu vực tư nhân Mỹ ở Đông Nam Á, không để cho các công ty Nga, Trung, Ấn chiếm ưu thế. Bên cạnh đó, Mỹ cũng cần phải iều chỉnh chiến lược trừng phạt để đối phó với mạng lưới né tránh kiểu Việt Nam–Nga, tránh việc càng trừng phạt, càng có nhiều hệ thống thay thế ra đời.

Tóm lại, hợp tác năng lượng Nga–Việt Nam được lý giải như một dấu hiệu rõ nét của địa chính trị mới. Việt Nam trở thành một nơi làm thay đổi, thậm chí đảo ngược, cân bằng quyền lực giữa Mỹ, Nga và các trung tâm quyền lực mới trong trật tự Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

No comments:

Post a Comment