VNTB – “Steve Jobs Việt Nam” và tư duy phát triển của nền giáo dục nước nhà
Quang Thành
12.06.2026 7:42
VNThoibao
Trong kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học vừa qua, một đề bài nghị luận xã hội ngắn đã thu hút sự chú ý lớn từ dư luận với nội dung mang hơi hướng ngoại lai.
“Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk… với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận để trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?”.
Đề bài này nhận được nhiều lời tán dương vì tính “thời thượng”, cổ vũ tinh thần đổi mới sáng tạo và mang hơi thở của thời đại số, ăn theo tinh thần của nghị quyết 57 của Bộ Chính Trị. Tuy nhiên, đề bài này cũng nhận không ít gạch đá trên mạng xã hội. Đọc kỹ lại thì sẽ thấy đề bài thi này lại để lộ nhiều khiếm khuyết về kiến thức nền tảng và tư duy hệ thống cùng với tâm lý sính ngoại.
1. Gắn mác “Nhà phát minh” sai người
Sai lầm đầu tiên và rõ ràng nhất của đề bài nằm ngay ở mệnh đề định hướng: “…với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới”. Đây là một khẳng định sai hoàn toàn về mặt lịch sử khoa học và bản chất công nghệ. Những nhân vật được liệt kê, Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk, chưa bao giờ là những nhà phát minh (Inventors). Họ là những nhà đổi mới sáng tạo (Innovators) và những nhà kỹ nghệ hoặc kinh doanh đầy ảnh hưởng.
Steve Jobs không phát minh ra máy tính cá nhân hay điện thoại di động. Steve Wozniak mới là kỹ sư thiên tài sáng tạo ra chiếc máy tính Apple I và II. Công nghệ màn hình cảm ứng điện dung, nền tảng cốt lõi làm nên cuộc cách mạng iPhone, thực chất đã được phát minh tại các phòng thí nghiệm của CERN (Châu Âu) và các viện nghiên cứu Mỹ từ nhiều thập niên trước. Steve Jobs là người có tầm nhìn thẩm mỹ, thấu hiểu trải nghiệm người dùng để thương mại hóa xuất sắc những công nghệ ấy.
Mark Zuckerberg không phát minh ra mạng xã hội hay các thuật toán mật mã cơ bản. Ý tưởng về mạng xã hội nội bộ đã xuất hiện trước đó. Zuckerberg chỉ là người tạo ra một giao diện mới, có tính gây nghiện và biến nó thành một nền tảng toàn cầu.
Elon Musk cũng không hề phát minh ra xe điện và cũng không tự tay chế tạo tên lửa. Elon Musk là nhà đầu tư thiên thần của Tesla từ năm 2004 và sau đó 4 năm mới trở thành CEO của hãng xe này. Tên lửa SpaceX bay vào không gian là thành quả của các nhà khoa học cùng hàng ngàn kỹ sư hàng không vũ trụ hàng đầu dưới trướng Elon Musk.
Đề thi đã nhầm lẫn giữa PHÁT MINH khi tạo ra cái mới chưa từng có và Thương mại hóa/Đổi mới sáng tạo khi biến cái có sẵn thành sản phẩm có giá trị thặng dư cao và phổ biến rộng rãi.
Hệ quả tai hại hơn là tiêm nhiễm vào đầu học sinh một tư duy sai lệch. Đó là chỉ nhìn thấy những đế chế công nghệ thành công của các tỷ phú mà không nhìn thấy quá trình tích lũy tri thức, nghiên cứu cơ bản của các nhà khoa học, trí thức kỹ sư góp phần tạo ra ánh hào quang đó.
Những người ra đề thi đã cẩu thả trong việc ra đề cho một kỳ thi quốc gia hay họ ngạo mạn đến mức không cần có sự thẩm định hay góp ý của các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế hay khoa học.
2. Ảo tưởng cá nhân
Ngoài sai sót về kiến thức, điều nguy hiểm hơn cả là những người ra đề đã quy các vấn đề phát triển vĩ mô cho những cá nhân cụ thể.
Trong tư duy người ra đề, thành công có được nhờ ý chí, công nghệ phát triển nhờ trách nhiệm, và sự thịnh vượng được đo bằng khát vọng vươn mình. Khi đặt câu hỏi “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?”, đề bài đang hướng học sinh đi tìm một vĩ nhân công nghệ mà không nhìn rộng hơn vào môi trường nuôi dưỡng những con người kiệt xuất.
Nước Mỹ không tạo ra công nghệ làm thay đổi thế giới bằng ba thiên tài đó. Trái lại, chính hệ sinh thái và thể chế Mỹ đã cho phép Steve Jobs, Mark Zuckerberg hay Elon Musk xuất hiện. Hệ sinh thái màu mỡ từ vốn của Wall Street, môi trường học thuật phóng khoáng của Stanford hay MIT, hệ thống pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, văn hóa chấp nhận thất bại… Chỉ cần đưa một số lượng đủ lớn những người có năng lực vào hệ thống đó, chắc chắn sẽ là những phát kiến đổi mới.
Nếu thiên tài bị ném vào một nơi đầy rẫy thủ tục hành chính phiền hà, cơ chế xin – cho, một hệ thống giáo dục rập khuôn, thì thiên tài mấy cũng bị thui chột hoặc phải đi tỵ nạn ở các thể chế khác để tồn tại, để có thể phát triển tài năng đúng nghĩa.
Thể chế và năng lực xã hội mới tạo ra quy luật phát triển tài năng. Nền giáo dục Việt Nam vẫn mắc kẹt ở tư duy cũ kỹ khi ca ngợi những trường hợp ngoại lệ và bỏ qua những câu hỏi cốt lõi về môi trường và cơ chế tạo ra thành tựu.
3. Tâm lý sính ngoại
Việc sử dụng cụm từ “Steve Jobs Việt Nam” cũng là một sự khập khiễng.
Steve Jobs không phải là một chức danh, một học hàm hay một tiêu chuẩn có thể Việt hóa. Việc ép học sinh phải trở thành một phiên bản sao chép của một người Mỹ là bắt một người trẻ Việt Nam nhỏ bé phải đi một đôi giày ngoại cỡ của người Mỹ. Có thể thấy, người làm công tác giáo dục đã hoàn toàn mù mờ trong việc định hình con đường đi cho đất nước.
Ngoài ra họ đã tự mặc định rằng học sinh nào cũng biết đến Steve Jobs. Ở những vùng xa, không internet, không iPhone chỉ có Xiaomi hay Huawei, thì ai có thể biết được Steve Jobs có hình hài gì? Và cứ như vậy là thí sinh đã bị mất oan 2 điểm vì sự bất bình đẳng về thông tin.
Một đề thi quốc gia lại phải mượn ba biểu tượng của chủ nghĩa tư bản Mỹ để làm thước đo cho sự tiến bộ của giới trẻ trong nước. Qua đó có thể thấy tâm lý tôn sùng những giá trị Mỹ: đỉnh cao của sự sáng tạo là của người Mỹ, giàu có phải như những tỷ phú công nghệ Mỹ.
Thay vì hướng học sinh nhìn vào thực tế phù hợp với lứa tuổi, hay thực tế của đất nước, đề bài bắt các em học sinh phải giải quyết một vấn đề vĩ mô mang tầm quốc gia. Tệ hơn nữa là đóng khung tư duy của học sinh trong việc sao chép những mô hình của thung lũng Silicon và cuộc đời của các tỷ phú Mỹ.
Những cá nhân ra đề nói riêng và rộng hơn là đất nước không tự tin vào năng lực bản thân và chưa định vị được mình là ai, cần phải làm gì trên con đường phát triển.
4. Hệ luỵ khôn lường
Đọc một đề thi như vậy, học sinh cũng sẽ chỉ có thể viết đoạn văn sáo rỗng, mang tính quyết tâm cao và ý chí hừng hực. Đại loại như “Học tập tinh thần sáng tạo của Steve Jobs, em sẽ phấn đấu không ngừng để có thể tạo ra những sản phẩm công nghệ trong kỷ nguyên số, nhằm phục vụ khát vọng vươn mình của tổ quốc.”
Nền giáo dục của Việt Nam vẫn sử dụng tư duy tu thân của thế kỷ 19 để tìm giải pháp cho công nghệ trong thế kỷ 21. Các em không thể được dạy rằng phẩm chất và khát vọng sẽ làm nên kỳ tích công nghệ. Lòng yêu nước, đạo đức tốt cũng không đủ để cho một doanh nghiệp khởi nghiệp cất cánh.
Một quốc gia phát triển không phải nhờ sự xuất hiện của các thiên tài như Steve Jobs mà nhờ vào thể chế năng động và năng lực xã hội. Nước Mỹ có Steve Jobs vì họ có Thung lũng Silicon, chứ không phải ngược lại. Chừng nào còn các bài văn rỗng tuếch thì chừng đó đất nước chưa thể vươn mình!
No comments:
Post a Comment