Friday, January 30, 2026

VNTB – “Khát vọng lớn, bước đi chắc” của Tô Lâm có dễ đạt được?
Diễm Thi
30.01.2026 6:09
VNThoibao


(VNTB) – Tô Lâm đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm giai đoạn 2026–2030 là một tham vọng rất lớn, đi kèm hàng loạt thách thức về mô hình tăng trưởng, nguồn lực và năng lực điều hành.

 Trong báo cáo văn kiện trình Đại hội XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh phương châm “Khát vọng lớn, bước đi chắc”, với mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm giai đoạn 2026–2030, GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD vào năm 2030. 

Mục tiêu này được xem là “bệ phóng” để Việt Nam tiến tới trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, nhưng cũng đặt ra những thách thức chưa từng có. 

Thách thức về năng suất và mô hình tăng trưởng

Để duy trì tốc độ 10%/năm trong 5 năm, kinh tế Việt Nam phải tạo bước nhảy vọt về năng suất lao động, đổi mới công nghệ và hiệu quả sử dụng vốn, thay vì chỉ dựa vào lao động giá rẻ, đầu tư công ồ ạt và khai thác triệt để tài nguyên. 

Việt Nam vẫn còn là công xưởng của thế giới, năng suất lao không không cao. Công xưởng này được hưởng lợi từ khi các nhà đầu tư tháo chạy khỏi Trung Quốc để né thuế của Trump. Các mặt hàng phổ biến vẫn là gia công dệt may, da giày, hàng nội thất, hay lắp ráp điện tử, điện thoại thông minh nhờ giá nhân công rẻ cho các hãng lớn như Samsung, Apple, Addidas, NIkes…

Khu vực FDI thực sự là “xương sống” của nền kinh tế xuất khẩu Việt Nam và đang nắm giữ hầu hết các ngành hàng công nghệ cao. Gần như 100% kim ngạch xuất khẩu điện thoại và hơn 90% máy tính, linh kiện điện tử thuộc về các “ông lớn” FDI như Samsung, LG, Intel hay Foxconn.

Dù chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn, nhưng hiện nay các doanh nghiệp Việt mới chỉ góp phần gia công, lắp ráp. Tỷ lệ nội địa hóa trung bình còn rất thấp, chủ yếu là các linh kiện đơn giản như bao bì, nhựa, ốc vít. Phần lớn doanh nghiệp phụ trợ của Việt Nam là vừa và nhỏ, thiếu vốn đầu tư cho máy móc hiện đại và R&D (Nghiên cứu & Phát triển).

Tài nguyên thiên nhiên đã và đang được khai thác triệt để như than đá, dầu khí.. Một khi tài nguyên thiên nhiên đã hết là không thể tái tạo lại. Các tài nguyên này cũng chỉ được xuất ở dạng thô, tuy phục vụ được mục đích tăng trưởng kinh tế nhưng không gia tăng được giá trị xuất khẩu cao. 

Hạ tầng giao thông và các đại dự án bất động sản đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư công nhưng lại là con dao hai lưỡi. Giá đất tăng ảo khiến người dân có nhu cầu thực khó tiếp cận nhà ở, nhiều đại dự án bất động sản rơi vào tình trạng đô thị ma, bỏ hoang, gây lãng phí tài nguyên đất và vốn vay ngân hàng. 

 

Mục tiêu cách quá xa năng lực

 

Trong khi đó, quá trình chuyển dịch sang kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức mới đang ở giai đoạn đầu, hạ tầng số, năng lượng và logistics còn nhiều hạn chế, khiến khoảng cách giữa mục tiêu và năng lực hiện tại khá lớn.

Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế số phát triển nhanh nhất Đông Nam Á với các lĩnh vực thương mại điện tử (Shopee, Lazada, TikTok Shop), thanh toán không dùng tiền mặt và công nghệ tài chính (Fintech) đang bùng nổ. Tuy nhiên, thách thức lớn nằm ở tính bảo mật dữ liệu và khoảng cách số giữa thành thị – nông thôn.

Kinh tế xanh đã được Việt Nam cam kết từ sau COP26, sẽ  đẩy mạnh lộ trình giảm phát thải và bền vững hóa sản xuất. Tuy nhiên chi phí để chuyển đổi sang công nghệ “xanh” và “sạch” rất lớn phải đi cùng với công nghệ hiện đại. Đây là điều Việt Nam hiện chưa đạt được.

Khai tử điện than, ưu tiên năng lượng tái tạo, xanh hoá chuỗi cung ứng xuất khẩu bằng đóng thuế carbon theo yêu cầu của EU, đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn và sử dụng nguyên liệu tái chế là những miếng xương khó nhằn cho các ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam trong thời gian tới.

Việt Nam đang nỗ lực thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình bằng cách đầu tư vào trí tuệ như tập trung vào Công nghệ cao nhưng chỉ mới ở mức thu thu hút các tập đoàn bán dẫn, AI và chip (như Nvidia, Samsung, Intel, và mới đây là ASML) đầu tư vào Việt Nam mà chưa có được các cơ sở nghiên cứu và phát triển (R&D). 

Chất lượng nhân lực trình độ cao vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các tập đoàn đa quốc gia, chuyên gia trong các ngành mũi nhọn như bán dẫn và AI vẫn thiếu hụt trầm trọng. Bên cạnh đó hành lang pháp lý vẫn chưa theo kịp các mô hình kinh doanh mới (như tiền ảo, tài sản số).

Mục tiêu “xác lập mô hình tăng trưởng mới” – dựa chủ yếu vào năng suất, chất lượng, đổi mới sáng tạo – đòi hỏi cải cách mạnh trong giáo dục, khoa học – công nghệ, môi trường kinh doanh và bảo vệ quyền tài sản, nhưng đây là những lĩnh vực cải cách thường chậm, xung đột lợi ích và khó đo lường kết quả trong ngắn hạn. 

 

Khi cải cách thể chế bị lỡ nhịp 

Nếu quá trình cải cách thể chế – đặc biệt là việc xây dựng các quy định, luật lệ minh bạch và hiệu quả – không bắt kịp với tốc độ phát triển kinh tế và các mô hình mới; nền kinh tế dễ rơi trở lại quỹ đạo tăng trưởng theo chiều rộng, tăng nợ xấu, lãng phí vốn và tụt hậu công nghệ.

Tăng trưởng chỉ dựa vào việc khai thác tối đa tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ và vốn đầu tư ồ ạt, thay vì dựa vào năng suất lao động, đổi mới công nghệ và giá trị gia tăng cao (tăng trưởng theo chiều sâu) sẽ khiến cho tài nguyên cạn kiệt, vướng bẫy thu nhập trung bình và khó cạnh tranh bền vững với các nền kinh tế phát triển hơn.

Thể chế yếu kém dẫn đến việc quản lý lỏng lẻo trong đầu tư công và cho vay ngân hàng. Vì thế nguồn vốn bị phân bổ sai mục đích (ví dụ: vốn bị chôn vào các dự án bất động sản không hiệu quả), tạo ra các khoản nợ xấu khổng lồ trong hệ thống ngân hàng, đe dọa sự ổn định tài chính quốc gia.

Khi thể chế không đủ mạnh, các dự án đầu tư công dễ trở thành “sân sau” cho các nhóm lợi ích, dẫn đến tình trạng đội vốn, chất lượng công trình thấp và kém hiệu quả gây lãng phí nguồn vốn (cả ngân sách và vốn vay), không tạo ra giá trị kinh tế thực sự, làm chậm đà phát triển chung. Đây cũng là nguồn cơn cho căn bệnh tham nhũng và lợi ích nhóm triền miên tại Việt Nam.

Thể chế hành chính rườm rà, thiếu cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ vững chắc sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư công nghệ cao và các trung tâm nghiên cứu & phát triển (R&D). Nền kinh tế chỉ dừng lại ở mức gia công lắp ráp, không làm chủ được công nghệ cốt lõi và sẽ bị bỏ lại phía sau trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Các quốc gia có GDP từ 10% trở lên

Các quốc gia có tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, thậm chí trên 20% không nằm trong số các quốc gia phát triển, có nền công nghệ tiên tiến mà là các quốc gia phất lên nhờ dầu mỏ hay du lịch phục hồi.

Guyana tăng trưởng với tốc độ phi mã  (14,4%) nhờ khai thác các mỏ dầu lớn. Libya có tốc độ tăng trưởng dự báo đạt khoảng 13,7% vào năm 2025 khi sản lượng dầu mỏ ổn định trở lại sau giai đoạn bất ổn. Nam Sudan là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới năm 2025 lên tới 27,2% cũng nhờ dầu mỏ. Nigeria dự báo đạt khoảng 11,2% nhờ vào việc bắt đầu xuất khẩu dầu mỏ qua đường ống mới.

No comments:

Post a Comment