Người bạn nhạc sĩ của cha và nỗi buồn của tôiDương Tự Lập
25-1-2026
Tiengdan
Định bụng đạp xe lên thăm vợ chồng bác nhạc sĩ Văn Cao, tôi ghé qua nhà anh họa sĩ Tô Ngọc Thành ở số 104 phố Yết Kiêu. Tới nơi thì gặp anh vừa bước ra cửa. Anh mời vào chơi.
Định bụng đạp xe lên thăm vợ chồng bác nhạc sĩ Văn Cao, tôi ghé qua nhà anh họa sĩ Tô Ngọc Thành ở số 104 phố Yết Kiêu. Tới nơi thì gặp anh vừa bước ra cửa. Anh mời vào chơi.
Hai tuần trước tôi từng ghé, anh đi vắng. Mẹ anh nói anh bận nhiều việc. Hôm ấy anh bảo phải đi đặt làm khung tranh ở phố Bà Triệu. Bác Hoàn – mẹ anh Thành – người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và hiếu khách. Tôi còn đang ngồi thì anh đã quay lại, tay cầm mấy quả dưa lê trắng, cười bảo vừa gặp bà Băng ngoài chợ.
Ngày đó, chợ cóc kéo dài ngay trước cửa nhà anh, sang tới chân cầu thang nhà bác Nghiêm Thúy Băng – vợ nhạc sĩ Văn Cao – ở số 108 Yết Kiêu, góc phố Vũ Lợi. Thấy anh có vẻ sắp đi việc khác, tôi xin phép qua thăm vợ chồng bác Văn Cao như dự định ban đầu.
Hai bác vừa ăn xong bữa trưa muộn. Trong nhà còn chú nhạc sĩ Xuân Giao, có lẽ đến từ sớm, đang chờ xin phép ra về. Tôi ngồi nép một góc, nhìn thấy tập nhạc mỏng, còn mới tinh: Xuân Giao – Cô gái mở đường. Giai điệu và ca từ quen thuộc lướt qua trong đầu: “Cô gái miền quê ra đi cứu nước. Mái tóc xanh xanh tuổi trăng tròn. Bàn tay em phá đá mở đường. Gian khó phải lùi nhường em tiến bước”.
Thế hệ anh chị tôi những năm 1965–1970, giữa thời chiến tranh khốc liệt, khoác súng mở đường vào Nam. Tuổi trẻ ngây thơ, hừng hực khí thế, mấy ai nghĩ tới cái chết.
Trong nhà chỉ còn lại ba bác cháu. Bác gái khỏe, chú Xuân Giao tặng bác Văn cuốn nhạc mới xuất bản, bìa do chính bác Văn vẽ. Hơn chục năm qua, bác Văn Cao chỉ ở nhà vẽ minh họa, trình bày bìa sách báo cho bạn bè thân quen. Hôm ấy, tôi cảm thấy không khí có gì đó khác lạ, nhất là thái độ của bác gái.
Khi tôi đứng dậy chào ra về, bác gái bất ngờ hỏi:
– Cậu quen ông Ích lâu chưa?
Tôi ngạc nhiên:
– Dạ, cháu quen bác Đỗ Hữu Ích cũng lâu rồi… Có chuyện gì hả bác?
Bác chỉ đáp gọn: “Không, bác hỏi vậy thôi”. Nhưng tôi hiểu ngay. Lần đầu tiên bác gọi tôi là “cậu” chứ không phải “cháu”.
Trận mưa lớn bất thường tháng 11 năm 1984 là một trong những cơn mưa hiếm hoi mà nhiều chục năm sau người Hà Nội vẫn còn nhắc lại. Mưa đổ xuống như trút, kéo dài từ sáng đến chiều, khiến cả thành phố chìm trong biển nước. Đường phố biến thành sông, xe cộ chết máy, người đi bộ lội bì bõm trong dòng nước đục ngầu. Chiều hôm ấy, trước cửa rạp chiếu phim Mê Linh trên phố Lò Đúc, có ba người tạt vào trú mưa: Tôi, bác Đạt – người đạp xích lô, nhà sát lò mổ Lương Yên – và bác Đỗ Hữu Ích, nguyên phóng viên báo Nông Nghiệp đã nghỉ hưu.
Bác Ích ở khu tập thể Nguyễn Công Trứ, khu người ta quen gọi là “Nghĩa địa”, căn hộ H2, chung cầu thang với cô Trúc – đồng nghiệp cùng công ty với tôi. Nhà bác cách rạp Mê Linh chỉ vài chục mét. Mưa lớn quá, nước dềnh lên nhanh, không ai vội vã đi đâu được. Ba người đứng nép dưới mái hiên, nhìn nước tràn qua miệng cống, nghe tiếng mưa đập chan chát xuống mặt đường Lò Đúc.
Chính từ buổi trú mưa ngẫu nhiên ấy, tôi quen thân với bác Đỗ Hữu Ích. Những năm sau đó, qua nhiều lần lên xuống thăm hỏi, bác kể cho tôi nghe không ít chuyện đời mình. Bác là người Hải Phòng. Thuở nhỏ, bác học cùng nhạc sĩ Văn Cao ở trường tiểu học Bonnal (sau là Ngô Quyền), tình bạn kéo dài từ thời niên thiếu. Gia đình bác Ích khá giả: Ông bà thân sinh từng có xưởng in riêng, từng mở cửa hàng bánh ngọt, nước giải khát – điều hiếm hoi trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ.
Bác kể, dưới bác có một người em gái, tên là Đỗ Thùy Dung (hay Thúy Dung mà tôi không nhớ rõ), chỉ nhớ đó là một cô gái rất xinh. Có một thời gian, nhạc sĩ Phạm Duy để mắt tới cô, nhưng bác Ích lại muốn giới thiệu em gái mình cho người bạn thân là nhạc sĩ Văn Cao. Cuộc đời rẽ sang hướng khác khi năm 1954, em gái bác cùng gia xuống tàu vào Nam, rồi ở lại trong đó luôn. Riêng bác Ích đã ra Hà Nội từ năm 1942, mua căn hộ số 45 đầu phố Mongrand (nay là Nguyễn Thượng Hiền). Sau này, bác để lại căn gác ấy cho bác Văn Cao. Và chính tại căn gác nhỏ đó, Tiến quân ca đã ra đời.
Từ khi quen bác Ích, mỗi lần đến thăm cô Trúc là tôi lại ghé lên tầng trên, hỏi thăm bác. Một chiều đầu thu năm 1991, tôi lên như thường lệ. Người đàn bà giúp việc ra mở cửa, nói nhỏ rằng trong nhà có khách. Tôi nhìn vào, không thấy cảnh ngồi bàn uống nước như mọi khi. Bác Ích đang nằm trên chiếc giường trong, nơi ánh sáng hơi tù mù, nói chuyện với một người đàn ông trông trẻ hơn tôi chút ít. Người này cắm cúi ghi chép lời kể của bác.
Tôi chỉ ngồi lại chừng mươi phút rồi xin phép ra về để hai người tiện làm việc. Sau đó tôi mới biết người đàn ông ấy tên là Tô Đông Hải, nhà phía chợ Mơ hay dưới Vọng, gần bến xe Giáp Bát thì phải, mới vào nghề viết báo, cộng tác không chính thức cho báo Tiền Phong.
Cuối tháng 8 năm ấy, số 26 Tiền Phong Chủ nhật, khổ nhỏ hơn ngày thường, đăng bài “Tiến quân ca có hai tác giả?”. Trên đầu bài là hai gương mặt đặt cạnh nhau: Nhạc sĩ Văn Cao và ông Đỗ Hữu Ích. Đại ý bài báo cho rằng, phần lời Tiến quân ca có công đóng góp của Đỗ Hữu Ích, còn phần nhạc là của Văn Cao. Bài viết lập tức gây xôn xao dư luận, đẩy Quốc ca – một biểu tượng thiêng liêng – vào vòng tranh cãi.
Một lần khác tôi lên thăm bác Ích, cũng hoàn toàn tình cờ như lần trước. Nhưng lần này, người ngồi ghi chép trên chiếc giường tối ấy lại là một người khác. Bác Ích giới thiệu đó là ông Nguyễn Phúc Giác Hải, làm việc ở một viện nghiên cứu nào đó, tôi cũng không mấy để tâm. Bác quay sang nói với ông Hải:
– Anh nhà thơ Dương Quân, bố thằng cháu họa sĩ đây, thân với anh nhạc sĩ Văn Cao lắm đấy.
Bác nói vậy là quá lời. Tôi chỉ là dân vẽ nghiệp dư, “a-ma-tơ” đúng nghĩa. Nhưng tôi vẫn cảm thấy ánh mắt của ông Hải nhìn tôi chằm chằm, một cái nhìn lạ lùng, khó chịu, có phần khiếm nhã. Tôi giữ thái độ lịch sự, tiến lại bắt tay, đồng thời nhìn thẳng vào đôi mắt rất khác người của ông ta.
Bác Ích nói với tôi rằng vẫn là chuyện Quốc ca. Bài báo của Tô Đông Hải đang gây ồn ào, nên ông Giác Hải lên tìm hiểu thêm. Không khí trong phòng khiến tôi thấy bất tiện, bèn xin phép ra về. Trước khi đi, tôi buột miệng:
– Thôi anh ngồi lại làm việc, tìm hiểu cho kỹ lưỡng.
Không ngờ ông Hải chạy theo tôi ra ngoài hành lang, hỏi dồn:
– Anh bạn trẻ, cho tôi hỏi hiện anh công tác ở cơ quan nào? Anh có thể cho tôi xin một chữ ký vào bản nháp này được không?
Tôi khó chịu trong lòng: Tôi là cái thá gì mà phải xin chữ ký? Công việc của tôi chẳng dính dáng gì đến công việc của anh. Nhưng dù miệng nói thế, tay tôi vẫn cầm bút ký vào tờ nháp ông ta đưa. Về sau nghĩ lại, tôi thấy mình ấu trĩ, ngây thơ, bộp chộp. Tôi đâu biết rằng, trong vai người “đi tìm sự thật” về Quốc ca, ông ta cũng là người đã thấy tôi xuất hiện đúng lúc, đúng chỗ, trong một thời điểm nhạy cảm.
Tôi tự hỏi: Khi gặp lại vợ chồng nhạc sĩ Văn Cao, liệu ông Nguyễn Phúc Giác Hải có thêm bớt gì về sự việc ấy không? Trong lòng tôi, quả thực không có gì khuất tất hay thất thố, nhưng sự đời nhiều khi đâu cần đủ sự thật.
***
Khi cha tôi về làm ở báo Lao Động thì bác Văn Cao đã rời tòa soạn từ lâu. Mỗi trưa đi qua chợ Hàng Da, đúng mười hai giờ, chiếc loa treo trên cây đầu ngõ Trạm, cạnh rạp hát Hồng Hà, phố Đường Thành, lại phát bản nhạc không lời “Tiến về Hà Nội” mở đầu chương trình trưa của Đài Phát thanh Hà Nội. Tôi thường khe khẽ hát theo. Cha tôi bảo: “Rồi bố sẽ đưa con đến chơi nhà bác Văn”. (Văn là tên gọi thân mật của bác Văn Cao).
Gia đình tôi ở khu tập thể Nhà hát Nhân dân phố Trần Hưng Đạo. Đi lối sau qua Viện Bảo hộ Lao động số 1 Yết Kiêu, sang nhà bác Văn chỉ mất mười, mười lăm phút. Thế mà mãi sau tôi mới được gặp bác.
Anh Văn Thao, con trai đầu của bác Văn, bằng tuổi chị cả tôi. Thời trẻ, anh nổi tiếng vì trò “nhảy tàu điện”. Dân quanh ga Hàng Cỏ chúng tôi rất ngưỡng mộ. Đường tàu chạy dọc phố Nam Bộ (nay là Lê Duẩn) phía sau nhà anh. Mỗi lần đi lậu không vé, gặp “sơ-vơ” – Server, từ gọi người soát vé – là nhảy kiểu bướm lượn xuống đường. Một lần không may, anh trượt chân, tàu nghiến mất bàn chân phải.
Anh Thao lập gia đình vào Tết năm 1971. Tôi nhớ năm đó vì mình đang sốt nặng, quai bị sưng hàm. Cùng ngày ấy, anh trai tôi nhập ngũ, tập trung ở sân Câu lạc bộ Thống Nhất bên hồ Gươm. Trong đoàn tân binh khu Hoàn Kiếm năm đó, ngoài anh tôi còn có một người sau này rất nổi tiếng: Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, con trai trưởng nhạc sĩ Hoàng Giác.
Ít người biết “Trường ca sông Lô” của Văn Cao được gợi cảm hứng từ một chuyến đi thực địa cùng người bạn thân – nhà văn Siêu Hải – sau chiến dịch sông Lô thắng lợi mùa thu 1947. Khi ấy, Siêu Hải là một trong những chỉ huy pháo binh trực tiếp chiến đấu bên dòng sông. Vì kỷ niệm đó, khi sinh con trai trưởng, Văn Cao đặt tên là Thao.
Sông Lô và sông Đà là hai nhánh của cùng một dòng sông, hợp lưu tại ngã ba Bạch Hạc thành sông Hồng. Sông Thao là tên gọi cổ, đến nay người dân Phú Thọ, Việt Trì vẫn dùng để chỉ đoạn sông Hồng chảy qua vùng ấy. Như nhạc sĩ Đỗ Nhuận có ca khúc Du kích sông Thao.
Anh Nguyễn Nghiêm Bằng, con trai thứ hai của bác Văn, mang cả họ cha lẫn mẹ, lập gia đình năm 1979. Cuối năm đó, cha mẹ tôi cũng cưới vợ cho anh trai tôi. Suốt ngày hôm ấy, bác Văn có mặt ở nhà tôi. Ngẫu hứng, bác bảo cha tôi lấy bộ hộp màu của tôi ra, rồi vẽ tặng anh trai tôi một bức ký họa chân dung trong ngày cưới. Tôi chỉ được nghe kể lại, vì thời điểm ấy đang ở phía Bắc, tham gia đánh quân Trung Quốc bành trướng.
Người để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất là chị Nguyễn Hương Hương, con thứ ba của bác Văn. Mùa thu năm 1978, tôi cùng cha lên nhà bác chào từ biệt trước khi nhập ngũ. Một cảnh đẹp đến nao lòng: Chị Hương Hương ngồi tập đàn piano bên cửa sổ, bác Văn ngồi phía sau, vừa nghe vừa nhâm nhi rượu, thỉnh thoảng giảng giải cho con. Năm đó chị vừa vào Nhạc viện Hà Nội. Tôi nghĩ, sau này chị thế nào cũng thành danh.
Chợt nhìn xuống con phố xéo bên kia số 7 Vũ Lợi, tôi thấy cô Khuê – vợ nhà thơ Trần Dần – đang dắt xe đạp vào ngõ. Hình ảnh chị Hương Hương, mái tóc xõa, gương mặt thanh thoát bên cây đàn piano, theo tôi suốt đời quân ngũ, đến tận bây giờ vẫn không phai.
Khi Đông Âu sụp đổ, một đêm nằm ở khách sạn Košice, Praha, tôi nghe dân buôn người Việt cãi cọ, nhắc tới “chị Hương, con ông nhạc sĩ nổi tiếng”. Tôi nghi nghi. Sang Đức, tôi nhờ mấy đứa em bên Ba Lan dò hỏi. Chúng bảo, trước kia có một chị Hương từ Nga sang, bán hàng ở chợ Warszawa, nhưng nay đã chuyển đi đâu không rõ.
Mỗi lần nhớ đến hình ảnh thiếu nữ bên đàn piano năm xưa, lòng tôi lại dâng lên một nỗi tiếc nuối mơ hồ, khó gọi tên. Sau chị Hương còn hai người em: Nghiêm Thành và cô út Thiên Nga.
***
Tình bạn giữa cha tôi và bác Văn Cao rất sâu nặng. Khi chúng tôi vào thăm bác lúc bác ốm nặng ở bệnh viện Việt–Xô, bác nói:
– Bác với bố các cháu có nhiều kỷ niệm lắm. Nhà bác không dư dả, nhưng còn có sổ mua hàng Vân Hồ, chứ bố mẹ các cháu còn khốn khó hơn.
Thời ấy, Hà Nội chỉ có vài nơi bán hàng ưu tiên cho cán bộ trung, cao cấp: Tôn Đản, Nhà Thờ, Đặng Dung, Vân Hồ. Trong vụ Nhân văn – Giai phẩm, nghe kể, bác Văn là người “nhẹ tội” nhất. Có lẽ vì thế mà nhà nước thời đó vẫn cấp sổ Vân Hồ, vẫn cho nằm bệnh viện Việt–Xô. Và dĩ nhiên, vì bác là tác giả “Tiến quân ca”.
Những năm đầu, đến chơi nhà bác Văn thường buồn. Mãi sau này, khách khứa mới đông hơn, đặc biệt từ sau khi ông Lê Đức Thọ tới thăm dịp xuân 1988. Trong số khách ấy, có người từng né tránh bác, nay hết quyền lực mới tìm đến; có kẻ từng gửi bài Quốc ca mới dự thi không thành; có kẻ viết được vài bài báo đã tưởng mình ngang Lý Bạch, Tô Đông Pha, rồi nghiêng cổ, bổ người xin chụp ảnh với Văn Cao, sau đó đăng báo khoe khoang.
Cuối năm đó, bốc mộ cha tôi, mẹ tôi làm mấy mâm cơm mời bạn bè ông. Hai bác đi xích lô đến thắp hương. Mẹ tôi xúc động vì thấy bác Văn yếu nhiều. Tôi chỉ mong bác gái – nay tuổi đã xấp xỉ bách niên – được bình an, và mong không ai hiểu lầm tôi vì mối quen biết với bác Đỗ Hữu Ích, người đã lùi xa trong câu chuyện bản quyền Quốc ca.
Đầu xuân 1983, chú Tước ở Bắc Ninh – người từng cưu mang gia đình tôi thời sơ tán – biếu cha tôi chai rượu “cuốc lủi” nút lá chuối. Mồng Ba Tết Quý Hợi, tôi chở cha mang chai rượu ấy tới mừng thọ bác Văn tròn sáu mươi. Nhà đã đông đủ các bậc trí thức, văn nghệ sĩ. Cha tôi rót rượu, đọc mấy câu thơ:
Bất ngờ có tiếng hỏi: Nghe thấy mưa gió trong thơ là thế nào Dương Quân? Cha tôi giải thích, năm trước, Quốc hội từng phát động cuộc thi sáng tác Quốc ca mới, nhưng rồi rốt cuộc phải dẹp bỏ. Trời hết gió bão, rồi trở nên quang đãng yên bình. Mọi người vỗ tay. Giông tố qua rồi, anh Văn ơi. Thôi ta nâng cốc “cuốc lủi” chúc mừng anh và chúc mừng Quốc ca!
_______
Một số hình ảnh tác giả gửi cho Tiếng Dân:
No comments:
Post a Comment