VNTB – Thị Xã Đồng Hới Thời Cảnh Nghiêu Thuấn?Lê Bá Vận
19.05.2026 12:35
VNThoibao
(VNTB) –
Đầu tháng 7 năm 1992, từ Sài Gòn tôi bỗng nhận được điện tín khẩn báo tin cụ thân sinh của tôi, 89 tuổi, ở Đồng Hới bệnh trở nặng, trong nhà giục tôi ra gấp.
Đồng Hới là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình, có sông Gianh đi vào lịch sử chia đôi Nam Bắc thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, có Lũy Thầy, có Quảng Bình Quan nằm ở trung tâm thị xã, trên Quốc lộ 1.
Thị xã Đồng Hới có một số phận kỳ lạ. “Vươn lên từ tro tàn,” từ một thị xã bị triệt hạ toàn bộ thành bình địa năm 1964, cư dân bỏ ra đi lên phía đồi núi lưu ngụ, ngót 40 năm sau về lại, xây dựng nơi xưa, đẹp và rộng lớn gấp 50 lần. Thị xã trước diện tích khoảng 3 km2, nay 155.71 km2 do sáp nhập địa giới hành chánh. Được cải danh là Thành phố, Đô thị loại II.
Để thay đổi diện mạo, thị xã đã hứng chịu 2 đợt không kích: Pháp năm 1947 (có tôi) và Mỹ năm 1964.
Những trận không kích đầu tiên
Túi bom rốn đạn
Từ năm 1947, Pháp đã không còn sau Hiệp định Genève năm 1954, chiến tranh khởi động trở lại. Tháng 2 năm 1964, phi cơ Mỹ bay đến bắn phá và ném bom dữ dội Quảng Bình, là vùng bắc giới tuyến, trọng điểm chiến lược của đường mòn Hồ Chí Minh, điểm khởi nguồn của hai nhánh Đông và Tây Trường Sơn, nơi đóng quân và tàng trữ kho vũ khí để chi viện chiến trường miền Nam.
Ngày 4/4/1964, một đợt ném bom kéo dài san bằng những kiến trúc còn lại của thị xã. Những người còn ở lại, nay tất cả đều dọn lên Đồng Sơn, trở thành tỉnh lỵ mới chính thức của tỉnh Quảng Bình. Nơi đây có trụ sở của UBND tỉnh, có bệnh viện, trường học, chợ búa (chợ Cộn), tên đường phố, số nhà… có đủ cả. Song phong thái vẫn là cảnh làng quê với nhà sân vườn rộng, cây cối um tùm, và không thấy có các dãy phố xá, hiệu buôn, khách sạn đặc trưng nơi thị tứ. Đường sá không láng nhựa, vắng bóng xe cộ. Bù lại, thủ phủ mới này, máy bay Mỹ không ngó tới. Chúng như tuồng chỉ hỏi thăm những cơ sở, tiện nghi quân sự. Một số người cẩn thận, chạy tuốt lên Thuận Đức, ở trong rừng rậm, có bộ đội đóng quân.
Sau 1975 chiến tranh chấm dứt, UBND tỉnh, các đoàn thể chủ chốt và toàn bộ dân chúng vẫn ở yên tại Đồng Sơn thêm nhiều năm, do thị xã cũ bị hủy diệt hoàn toàn, chưa được xây cất trở lại.
Thời cảnh Nghêu Thuấn
Năm 1992 tôi đáp tàu hỏa ra Đồng Hới để chịu tang cụ thân sinh. Tôi đi cùng người anh con bác ruột, song nhỏ tuổi hơn. Chúng tôi đến Đồng Hới thì trời vừa sẩm tối.
Ga Đồng Hới thời Pháp thuộc được đặt tên là ga Thuận Lý (giống như Ga Hà Nội có tên cũ là ga Hàng Cỏ) vì nằm trong địa phận làng Thuận Lý cách thị xã khoảng trên 2 km nằm về phía biển. Từ thị xã lên ga, đường bộ gặp đường sắt trước, đi qua dưới cầu lòn rồi đi vòng lại đến khu vực sân ga.
Tôi đưa địa chỉ, số nhà ở Đồng Sơn cho anh xe ôm. Anh ta nói cũng gần nhà anh. Lên xe mới biết xe gắn máy các nước XHCN khỏe thật, chạy rất tốt, lên dốc mạnh, đèn chiếu rất sáng. Người lái cẩn thận, thuộc đường và chạy xe nhanh vừa phải. Đến nhà an toàn, tôi biếu thêm tiền cho anh ta.
Vào nhà, trong nhà còn thức; linh cữu ba tôi đặt ở căn phòng giữa. Tôi mặc tang phục, thắp hương quỳ lạy trước linh cữu. Trong nhà kể cho tôi biết tình trạng bệnh trở nặng của ba tôi, có đem vào bệnh viện nằm vài hôm rồi cho về nhà. Cùng lúc tôi được xem các hình ảnh tang lễ do thợ ảnh chụp.
Về chuyện xe đạp, xe gắn máy để ngoài không khoá mà tôi thắc mắc thì tôi được bảo xe trong nhà cũng không chiếc nào có khóa xe. Ở Đồng Sơn và nói chung ở Quảng Bình, hộ nào có xe đạp họ đều biết. Xe đạp có đăng ký và cấp biển số. Xe gắn máy Liên Xô, Tiệp, Đông Đức lại càng ít người có, dù lấy trộm cũng chẳng dám dùng. Muốn gỡ bán phụ tùng thì phải đem vào Đông Hà, Quảng Trị cách xa cả trăm cây số mới có nơi tiêu thụ, mà ở trong Nam thì chỉ dùng xe gắn máy Pháp, Đức, Nhật, tư bản. Còn nữa, ở đây đêm ngủ hoặc nhà đi vắng cũng không phải đóng cửa. Thì ra là vậy.
Tuy nhiên hai năm trước, năm 1990 tôi ra Hà Nội, mượn xe gắn máy Honda của ông chú bên vợ để đi công việc chút đỉnh. Lúc vừa dựng và khóa xe bên lề đường bước vào hiệu sách ở phố Tràng Tiền, chỉ trong tíc tắc cẩn thận ngảnh mặt nhìn lui tôi thấy một người đang loay hoay ở đầu xe, tháo gỡ gì đó. Tôi la oai oái chạy lộn ra, anh chàng vùng bỏ chạy lập tức, mặt nạ xe gỡ nửa chừng chưa kịp mang theo. Tối tôi về trả xe, ông chú bảo nếu bị trộm, chỉ mất công ra chợ trời thì mua lại được đúng cái vừa bị mất cắp.
Sau việc tang lễ, tôi đi xe đạp xuống thăm thị xã Đồng Hới xưa, hòng tìm lại vết tích ngôi nhà ngói năm gian, số 37 đường Quan Thánh ở trung tâm thị xã, nơi cha mẹ tôi cùng con cái sinh sống.
Đến nơi, điều tôi thấy trước mắt là thị xã năm xưa sinh động với các phường Đồng Đình, Đồng Hải, xóm Câu nay biến thành một hoang địa với những bụi cây, đám cỏ. Tôi không tài nào nhận ra được địa điểm ngôi nhà cũ, gần chợ Đồng Hới. Ba mẹ tôi cùng những cư dân của thị xã có làm đơn xin thu hồi mảnh đất nơi ngôi nhà cũ tọa lạc, song sự việc không được giải quyết vì tất cả đều mất dấu.
Thành cổ Đồng Hới chu vi trên 2 km bị phá hủy toàn bộ (thời tiêu thổ kháng chiến); nay là hành cung, dinh thự, công sở, trại lính, lao xá, nhà cửa nội thành đều bị san bằng sát đất.
Một sinh khí ló dạng: trên Quốc lộ 1 ngõ vào thị xã, nay có 1 bến xe tạm, một vài xe tải dừng lại nghỉ ngơi, có quán ăn nhỏ, mái tranh và một tiệm nhỏ sửa xe, vá lốp, đổ xăng.
Tình trạng của thị xã Đồng Hới trong chiến tranh bị san phẳng năm 1964 đến năm 1992 vẫn còn là bãi đất hoang như tôi, một cư dân cũ, đã đến tận nơi, quan sát tận mắt, in sâu trong trí và mô tả.
Về lại Sài Gòn tôi không còn dịp trở lại viếng thăm Quảng Bình, miền Trung vì năm sau, năm 1993 tôi đã rời Việt Nam ra sinh sống ở nước ngoài. Tuy nhiên, theo dõi thời cuộc, tôi được biết Đồng Hới nay là một đô thị hiện đại, với 14 vạn dân, thủ phủ của tỉnh Quảng Trị mới do hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị sáp nhập, kể từ năm 2026.
Năm 1992 ra Đồng Hới, ngoài việc ma chay cho cha, tôi yên tâm phần nào khi thấy mẹ tôi còn minh mẫn, lưng không còn thẳng nhưng đi đứng còn vững, tinh thần không suy sụp, chung quanh con cháu, họ hàng không thiếu. Tôi lo liệu mọi chuyện cho mẹ trước khi về lại Sài Gòn.
Hình ảnh hai mẹ con ngồi cạnh nhau suốt một tiếng đồng, tôi nắm tay mẹ, hai mẹ con trò chuyện thì thầm – mẹ tôi, 85 tuổi, tai còn nghe rõ – là hình ảnh thân thương nhất thường gợi lại trong tâm trí tôi.
Một ký ức khác cũng đậm đà là những trải nghiệm mà chuyến đi đã mang lại. Hình ảnh tôi ngồi ép giữa người lái xe và người anh con ông bác, rất vướng víu, nhớ lại rùng mình. Lần đầu tiên và duy nhất tôi ngồi xe ôm, lại ngồi chen chật, giữa chốn hoang vu, đêm tối. Xe chạy trên đường đất, nhiều đoạn gồ ghề, rất xóc. Trước 1975 tôi đi toàn xe hơi, sau đó đi xe đạp, xe gắn máy, và luôn giữa thành phố.
Xuống ga Đồng Hới điều làm chúng tôi kinh ngạc tột độ là khi mục kích các xe đạp, xe gắn máy vứt bừa bộn trên bãi đất hoang, không người giữ mà chẳng thấy xe nào được khóa.
Nghĩ lại cũng năm 1992, ở Sài Gòn các cơ quan đều có nhà gửi xe cho nhân viên, nhưng xe phải khóa. Ngoài đường phố luôn có nơi gửi xe trả tiền, có người giữ. Nếu tìm được nơi có đặt khung giữ nhiều xe thì đỡ tốn. Ở Hà Nội ngoài nạn xe mất nguyên chiếc hiếm xảy, lại thêm tệ hại trộm vặt phụ tùng.
Chỉ sống vài hôm ở thị xã Đồng Sơn tôi đã nhận thấy toàn bộ cư dân từ Đồng Hới di tản lên đây lập nghiệp giữa cây cối xanh tươi nơi núi đồi, đã có một lối sống cầm chừng, dè sẻn. Có vẻ chỉ khi nào trở lại chốn xưa họ mới tìm lại được phong thái cũ, nhưng chỉ e ngày đó, cảnh Nghiêu Thuấn huyền thoại hiện hữu lại không còn.
No comments:
Post a Comment