Saturday, May 9, 2026

VNTB – AI chatbots có thể đang làm bạn kém thông minh hơn
BBC
10.05.2026 2:13
VNThoibao


(VNTB) – Các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) vì vậy không chỉ có thể làm giảm khả năng sáng tạo, mà còn có nguy cơ gây hại cho hoạt động nhận thức và thậm chí có thể làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ.

Khi các mô hình ngôn ngữ lớn đảm nhiệm ngày càng nhiều nhiệm vụ nhận thức, các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng việc “thuê ngoài” hoạt động tư duy này đi kèm một cái giá phải trả.

Khi nhà nghiên cứu Nataliya Kosmyna tuyển thực tập sinh, cô nhận thấy rằng những bức thư xin việc mà cô nhận được có dấu hiệu giống nhau một cách lạ thường. Chúng thường dài, được trau chuốt kỹ lưỡng, và sau phần mở đầu nhanh chóng chuyển sang những liên kết mang tính bao quát, thiếu logic với công việc của cô.

Đối với cô, rõ ràng các ứng viên đang sử dụng các mô hình ngôn ngữ tiên tiến (LLMs) – một dạng trí tuệ nhân tạo vận hành các chatbot như ChatGPT, Google Gemini và Claude – để viết thư xin việc.

Cùng thời điểm đó, trong các giờ học tại khuôn viên Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Kosmyna, một nhà nghiên cứu về tương tác giữa con người và máy tính, cho biết cô nhận thấy nhiều sinh viên hiện nay dường như ghi nhớ nội dung kém hơn so với vài năm trước đó.

Với việc ngày càng phụ thuộc vào các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs), bà có một linh cảm rằng điều này có thể đang ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của sinh viên và cô đã tìm cách tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này.

Mối lo ngại mà các nhà nghiên cứu như Kosmyna đang đặt ra rằng là nếu con người trở nên quá phụ thuộc vào AI, điều này có thể ảnh hưởng đến ngôn ngữ mà chúng ta đang sử dụng, thậm chí cả khả năng thực hiện những nhiệm vụ nhận thức cơ bản. Hiện nay, ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy việc “giao lại công việc trí óc” cho AI có thể bào mòn đối với năng lực trí tuệ của con người. Những hệ luỵ của nó rất đáng lo ngại, thậm chí nó còn có khả năng góp phần làm suy giảm khả năng tư duy.

Từ lâu, người ta đã biết rằng các công cụ chúng ta sử dụng có thể làm thay đổi cách chúng ta suy nghĩ. Chẳng hạn, với sự xuất hiện của internet, những nhiệm vụ từng đòi hỏi quá trình nghiên cứu chuyên sâu nay có thể được giải quyết chỉ bằng cách nhập một truy vấn đơn giản vào ô tìm kiếm. Khi việc sử dụng các công cụ tìm kiếm ngày càng phổ biến, các nghiên cứu cho thấy con người ít có xu hướng ghi nhớ chi tiết hơn, hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng Google”. (Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng internet cũng đóng vai trò như một hệ thống trí nhớ bên ngoài, giúp giải phóng não bộ để thực hiện các nhiệm vụ khác.)

Tuy nhiên, hiện nay ngày càng có nhiều lo ngại rằng con người tiếp tục “chuyển giao” hoạt động tư duy của mình cho các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) và các dạng trí tuệ nhân tạo khác nhiều hơn, đã tác động xấu đến trí nhớ và khả năng giải quyết vấn đề có thể sẽ trở nên trầm trọng hơn.

Các công cụ trí tuệ nhân tạo có thể viết thơ thuyết phục, đưa ra lời khuyên về tài chính và thậm chí cung cấp sự đồng hành về mặt cảm xúc. Trong khi đó, sinh viên ngày càng có xu hướng giao phó công việc của mình cho các công cụ AI. 

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng người trẻ có thể đặc biệt dễ bị tổn thương trước những tác động tiêu cực mà việc sử dụng AI có thể gây ra đối với các kỹ năng nhận thức quan trọng như tư duy phản biện. Tuy nhiên, Kosmyna muốn đi sâu hơn để tìm hiểu rõ hơn về những tác động tiềm tàng này.

Giảm gánh nặng nhận thức

Bà cùng các cộng sự tại Phòng thí nghiệm Truyền thông của MIT đã tuyển 54 sinh viên tham gia viết các bài luận ngắn và chia họ làm ba nhóm. Một nhóm được yêu cầu sử dụng ChatGPT. Nhóm thứ hai được phép dùng công cụ tìm kiếm Google, nhưng đã tắt các phần tóm tắt do AI tạo ra. Nhóm còn lại không sử dụng bất kỳ công nghệ nào. Hoạt động sóng não của từng sinh viên được đo trong suốt quá trình làm bài.

Các chủ đề bài luận được thiết kế có chủ ý theo hướng mở, nghĩa là không đòi hỏi nhiều nghiên cứu để hoàn thành. Những đề bài bao gồm các câu hỏi xoay quanh lòng trung thành, hạnh phúc hoặc những lựa chọn trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

Dù các kết quả này vẫn chưa được công bố trên một tạp chí khoa học, theo Kosmyna, chúng vẫn mang tính cảnh báo rõ rệt. Những người chỉ sử dụng tư duy của chính mình cho thấy bộ não “hoạt động mạnh mẽ”, với mức độ hoạt động lan tỏa ở nhiều vùng khác nhau, bà cho biết. Nhóm chỉ dùng công cụ tìm kiếm vẫn ghi nhận hoạt động mạnh ở các vùng thị giác của não. Trong khi đó, nhóm sử dụng ChatGPT cho thấy mức độ hoạt động não giảm đáng kể – giảm tới 55%.

“Não bộ không hề rơi vào trạng thái ‘ngủ quên’, nhưng mức độ kích hoạt ở các vùng liên quan đến khả năng sáng tạo và xử lý thông tin giảm đi đáng kể,” Kosmyna cho biết.

ChatGPT cũng ảnh hưởng đến trí nhớ của người dùng. Sau khi nộp bài luận, những người thuộc nhóm sử dụng AI không thể nhớ lại hay trích dẫn từ chính bài viết của mình, và một số người cho biết họ không cảm thấy mình thực sự là “tác giả” của bài làm. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy con người có xu hướng giảm khả năng ghi nhớ và hồi tưởng thông tin khi sử dụng các công cụ AI như ChatGPT.

Trong khi các phát hiện này vẫn đang trong quá trình phản biện khoa học, chúng tương đồng với kết quả từ nhiều nghiên cứu khác. Một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tại Đại học Pennsylvania cho thấy rằng một số người có thể rơi vào trạng thái mà họ gọi là “từ bỏ việc tư duy” khi sử dụng các chatbot AI. Điều này có nghĩa là họ có xu hướng chấp nhận những gì AI đưa ra với rất ít sự kiểm chứng, thậm chí để AI lấn át cả trực giác của chính mình.

Những tác động tương tự cũng có thể được tìm thấy ngoài lĩnh vực chatbot AI, thậm chí trong những tình huống liên quan đến sự sống còn của con người. Gần đây một nhóm nghiên cứu đa quốc gia đã phát hiện ra rằng các nhân viên y tế sử dụng một công cụ AI để sàng lọc ung thư đại tràng trong ba tháng sau đó lại kém hơn trong việc phát hiện khối u khi không có công cụ hỗ trợ của hệ thống này.

Việc giao phó công việc cho AI cũng có nguy cơ làm mất đi phần lớn tính sáng tạo vốn tạo nên những tác phẩm nguyên bản, bà Kosmyna cảnh báo. Những bài luận mà sinh viên trong nghiên cứu của bà viết bằng ChatGPT có sự tương đồng rất lớn và được các giáo viên chấm bài mô tả là “vô hồn”, thiếu tính độc đáo và chiều sâu, Kosmyna cho biết. “Một giáo viên thậm chí còn hỏi liệu các sinh viên có ngồi cạnh nhau khi làm bài hay không, vì các bài luận quá giống nhau.”

Trong khi những nghiên cứu như vậy cho thấy các tác động ngắn hạn mà LLMs có thể gây ra đối với não bộ, thì ảnh hưởng dài hạn vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu của Kosmyna và các cộng sự phần nào cung cấp một cái nhìn ban đầu. Bốn tháng sau thí nghiệm ban đầu, nhóm nghiên cứu yêu cầu các sinh viên viết thêm một bài luận khác, nhưng lần này những người từng sử dụng ChatGPT được yêu cầu làm bài mà không có sự hỗ trợ của LLM. Kết quả cho thấy mức độ kết nối thần kinh trong não của họ thấp hơn so với nhóm chuyển theo chiều ngược lại, điều này có thể cho thấy họ đã không thực sự tương tác sâu với chủ đề ngay từ đầu.

Suy giảm nhận thức

Tuy vậy, các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) vẫn có thể là một công cụ hữu ích để hỗ trợ tư duy, nhưng chỉ khi con người không phụ thuộc vào chúng bằng cách bằng cách giao việc suy nghĩ cho công cụ AI làm thay theo nhận định của nhà khoa học thần kinh tính toán Vivienne Ming, tác giả cuốn Robot Proof (Phòng Chống Robot). Tuy nhiên, bà bày tỏ ra lo ngại rằng đây không phải là cách đa số người đang tương tác với công nghệ này.

Lập luận của bà xuất phát từ một nghiên cứu thực hiện cho cuốn sách của mình, trong đó Ming yêu cầu một nhóm sinh viên tại Đại học Berkeley dự đoán các kết quả trong thế giới thực, chẳng hạn như giá dầu. Bà phát hiện ra rằng phần lớn người tham gia chỉ đơn giản hỏi AI rồi sao chép lại câu trả lời.

Bà đã đo hoạt động sóng gamma trong não của họ – một thước đo cho mức độ nỗ lực trí óc và phát hiện ra rằng mức độ hoạt động rất thấp. Một lần nữa, nghiên cứu của bà vẫn chưa được công bố. Nhưng, bà Ming lo ngại rằng nếu các phát hiện của bà được xác nhận trong các nghiên cứu tiếp theo, chúng có thể kéo theo những hệ quả lâu dài. Các nghiên cứu khác, chẳng hạn, đã liên kết hoạt động sóng gamma yếu với sự suy giảm khả năng tư duy trong giai đoạn sau của cuộc đời.

“Điều đó thực sự đáng lo ngại,” bà Ming nói. “Nếu đó là cách tương tác tự nhiên của con người với các hệ thống này và đây đều là những sinh viên giỏi thì điều đó là không ổn.” Theo bà, tư duy sâu là “siêu năng lực” của con người. “Nếu chúng ta không sử dụng nó, những hệ quả dài hạn đối với sức khỏe trí óc sẽ khá nghiêm trọng.”

Theo bà Ming, điều đó là bởi vì khi chúng ta phụ thuộc vào các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs), não bộ chỉ cần bỏ ra rất ít nỗ lực nhận thức trong khi chính sự vận động trí tuệ lại là điều cần thiết để duy trì một bộ não khỏe mạnh.

Tuy nhiên, một nhóm nhỏ người tham gia, chưa đến 10%, họ lại có cách tiếp cận khác, khi sử dụng AI như một công cụ để thu thập dữ liệu, sau đó họ tự phân tích. Những người này đưa ra các dự đoán chính xác hơn so với các nhóm còn lại, đồng thời cũng cho thấy mức độ hoạt động não mạnh hơn.

Cách đây gần hai thập kỷ, bà Ming từng dự đoán rằng trong vòng 20 đến 30 năm, sẽ có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ sa sút trí tuệ, liên quan trực tiếp đến việc con người phụ thuộc quá mức vào Google Maps. “Tôi nói điều đó với mục đích gây chú ý,” bà Ming cho biết. “Nếu bạn không cần phải suy nghĩ về việc định hướng, thì sẽ có một tác động có thể đo lường được.”

Mặc dù chưa có dữ liệu trực tiếp cho dự đoán này, việc sử dụng GPS ngày càng nhiều đã được một nghiên cứu cho thấy có liên quan đến sự suy giảm trí nhớ không gian theo thời gian, dựa trên một nghiên cứu kéo dài ba năm với 13 người tham gia. Bên cạnh đó, một nghiên cứu khác cũng cho rằng khả năng định hướng không gian kém có thể là một yếu tố dự báo tiềm năng của bệnh Alzheimer.

Rõ ràng là khi não bộ càng hoạt động tích cực, nó càng được bảo vệ tốt hơn trước sự suy giảm nhận thức. Theo bà Ming, các mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) vì vậy không chỉ có thể làm giảm khả năng sáng tạo, mà còn có nguy cơ gây hại cho hoạt động nhận thức và thậm chí có thể làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ.

___________________________

Nguồn:

BBC – AI chatbots could be making you stupider

No comments:

Post a Comment