Phật giáo Việt Nam ở Mỹ: Tâm linh và xã hộiKrishna Trần
29-5-2026
Tiengdan
Những chiếc thùng gỗ có ghi chữ Công Đức, hay là Phước Sương, là một hình ảnh vô cùng quen thuộc đối với hàng chục triệu Phật tử Việt Nam, trong đó có tôi. Đến thời hiện đại ngày nay, hay sang Mỹ, có thêm chữ Donation.
Trước kia, khi không có quan hệ nhiều đến chùa chiền và cộng đồng Phật tử người Việt, tôi nghĩ đơn giản rằng số tiền người ta bỏ vô các thùng đó, mà tiếng Việt trong cộng đồng Phật tử gọi là cúng dường, là dùng để duy trì và sửa sang các ngôi chùa, chi dùng cho cuộc sống giản dị của tăng ni. Nhưng khi có khá nhiều quan hệ, công việc liên quan đến chùa, Phật tử, tăng ni, tôi thấy rằng cúng dường không đơn giản như vậy.
Tiền cho tam bảo, tiền cho tăng ni
Một điều đầu tiên tôi “phát hiện” ra, là những người cúng dường phân biệt hai loại cúng: Số tiền bỏ vào thùng họ gọi là cúng dường tam bảo, ngoài ra nhiều người cúng dường thêm một khoản trực tiếp cho các vị tu sĩ, mà họ gọi là “cúng dường tăng ni”.
Ở đây có vài điểm thú vị. Thứ nhất, khái niệm tam bảo, tức là ba viên ngọc quý, trong Phật giáo là Phật, Pháp, Tăng. Như vậy vô tình những người muốn “cúng dường tăng ni” một phần riêng, đã tách Tăng, ra khỏi tam bảo?!
Khái niệm Tăng trong tam bảo, Tăng (sangha) bao gồm bốn chúng, là tăng sĩ nam nữ, và cư sĩ nam nữ, tức là một cộng đồng nhân loại ở một địa phương nào đó, đi theo con đường (đạo) của Phật Thích Ca. Rất đông Phật tử người Việt hiện nay hiểu phần Tăng trong tam bảo chỉ là các vị tu sĩ.
Điều thứ hai là, đức Phật Thích Ca đã dạy rằng, tăng sĩ không được cất giữ tiền bạc, các tu sĩ khất thực nuôi sống bản thân, nghỉ tại nơi nào có thể nghỉ. Truyền thống này dường như vẫn được duy trì ở một số môn phái Phật giáo thời nay.
Nhưng với hoàn cảnh hiện đại mà các tu sĩ không được đụng tới tiền bạc thì họ lấy phương tiện nào để nuôi sống bản thân mình? Do vậy, lời dạy đó phải thay đổi với thời cuộc là điều đương nhiên. Các tăng, ni ngày nay có cầm tiền, có tài khoản ngân hàng. Điều này không có gì sai. Tuy nhiên khi có quá nhiều tiền thì lại có nhiều sự tha hóa.
Năm 2016, vị sư trụ trì một ngôi chùa ở Louisiana đã biển thủ 264,000 đô la tiền quỹ của chùa, tức là tiền cúng dường từ Phật tử, để đi đánh bạc, và bị cảnh sát liên bang bắt giữ, bị truy tố, bị án tù.
Một thượng tọa ở Mỹ nói với tôi rằng, tật nghiện đánh bạc là một vấn nạn lớn trong cộng đồng các tu sĩ người Việt ở Mỹ. Cũng vị thượng tọa này nói rằng, ông rất lo lắng việc các vị tu sĩ quản lý tiền bạc nhưng không bị ai kiểm soát cả. Nhiều vị hay đem tiền về Việt Nam dưới danh nghĩa làm từ thiện, nhưng số tiền ấy có nguy cơ chạy về gia đình của họ ở Việt Nam, vị thượng tọa nói.
Ông cũng nói với tôi rằng, việc các tu sĩ Phật giáo người Việt ở Mỹ gửi tiền về cho gia đình họ ở Việt Nam để xây nhà cao cửa rộng không phải là điều hiếm, và hình ảnh đó trở thành niềm tự hào: “Có con đi hoằng Pháp tại Mỹ”. Điều này vô tình giống với tâm lý các gia đình ở Việt Nam khi nhận những thùng quà từ Mỹ, hơn 30 năm trước.
Đương nhiên không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của các tăng ni người Việt từ Mỹ, cho công cuộc cứu trợ, làm từ thiện ở Việt Nam, nhất là sau những thiên tai lớn.
Trở lại việc Phật tử mong muốn cúng tiền cho tu sĩ, có một tâm lý cho rằng họ sẽ được phước đức nhiều hơn khi chính tay họ cầm tiền cúng dường cho vị tăng sĩ. Điều này làm cho các “chùa hội” (tức là chùa do một nhóm cư sĩ lập ra, không thuộc “sở hữu” của tu sĩ) rất vất vả, vì một số lớn tiền cúng dường không đi vào ngân quỹ, dùng để sửa chữa, trả tiền điện nước, duy trì bảo dưỡng ngôi chùa.
Số tiền bỏ vào thùng phước sương như thế nào, đôi khi cũng trở thành to chuyện. Một Phật tử nói với tôi rằng, lần đó có việc gấp lên chùa, trong túi chỉ còn ít tiền lẻ, chị cho vào phong bì và bỏ vào thùng phước sương. Sau đó vị trụ trì có lên tiếng trong một buổi giảng pháp rằng, tiền cúng dường nên “đàng hoàng”, không nên bỏ tiền lẻ cúng dường.
Nghe câu chuyện này, tôi nhớ đến lời dạy của Đức Jesus, khi Ngài so sánh tấm lòng của một người đàn bà nghèo chỉ cúng dường có một đồng, với số tiền lớn của những tay trọc phú.
Tôi không rành điển tích Phật giáo, nhưng tôi nghĩ rằng Phật không bao giờ dạy rằng không nên cúng dường… tiền lẻ.
Hùn phước và … đầu tư cho tâm linh
Có một khái niệm trong Phật tử Việt Nam gọi là “hùn phước”. Khái niệm này rất cụ thể trong việc cúng dường, có nghĩa là mỗi người, khi bỏ ra một số tiền nào đó để cúng dường tam bảo, hay … “cúng dường tăng ni”, là tạo được một phước đức, bây giờ nhiều người cùng cúng dường cho một công trình chùa chiền, cùng giúp cho tăng ni nào đó, thì các phước đức ấy được gộp chung lại, to lớn hơn, và mỗi người cúng dường sẽ hưởng phước đức to lớn ấy.
Điều này không có gì sai khi nghĩ rằng công cuộc cúng dường nhỏ bé của cá nhân tạo được công cuộc lớn lao, nhưng nó hơi ngộ nghĩnh ở chỗ quan niệm phước đức giống như tiền vốn (tư bản).
Quan niệm “hùn (tư bản) phước” này mang ý nghĩa từa tựa như một quan niệm khác mà tôi mới nghe gần đây.
Một ni cô bình luận với tôi về những cư sĩ đang góp công và của cho việc xây dựng chùa chiền ở Mỹ, rằng các vị ấy, sau khi trải qua cuộc đời nhiều khổ đau, nên cuối đời muốn… “đầu tư cho tâm linh”.
Tôi rất bất ngờ khi nghe nhận xét này phát ra từ chính một tu sĩ. Không rõ khái niệm kỳ lạ này có lan truyền rộng rãi trong giới tu sĩ hay không.
Đa số Phật tử bình dân người Việt nghĩ rằng, khi họ cúng dường thì điều đó tốt đẹp cho … kiếp sau của họ, càng cúng dường nhiều thì sự tốt đẹp đó càng lớn, giống như khái niệm zero sum với một phép toán cộng. Điều đó chính là cơ sở cho khái niệm “hùn phước”, và “đầu tư cho tâm linh”. Nhưng những phát biểu này lại đến từ một tu sĩ thì quả thật là lạ.
“Đầu tư tâm linh” cho chính mình và đương nhiên cho cả người thân, cho nên các gia đình dù khó khăn bao nhiêu cũng rất cố gắng trong các mâm cúng đám tang, cúng thất, cúng 49 ngày, cúng 100 ngày.
Về nguyên tắc thì việc cúng kiến này là… tùy hỉ, nhưng nhiều người cho biết là đều có… giá cả, chẳng hạn như ở miền Bắc California, người ta tính đổ đồng $20/người, rồi nhân lên cho số người dự định tham dự, các thành viên trong gia đình, cộng với các vị tu sĩ ở ngôi chùa, nơi tổ chức cúng kiến. Giá này cũng không thấp hơn một bữa ăn chay cho một người trong một nhà hàng chay trong vùng. Ngoài số tiền $20/người đó, gia đình có tang còn phải cúng dường tam bảo, và … “cúng dường tăng ni”.
Xã hội và tâm linh, hai điều khác nhau
Phật tử Việt Nam ở Mỹ sẵn sàng cúng kiến, hùn phước, đầu tư tâm linh lớn như vậy, nhưng việc cúng dường (donation) cho các vấn đề xã hội, hay các định chế xã hội lại không cao.
Một nghiên cứu cho thấy, người châu Á ở Mỹ, ít nhất là thế hệ thứ nhất, nói chung không biếu tặng cho các trường đại học nhiều như cho (cúng dường) các cơ sở mang tính cộng đồng sắc tộc của họ như nhà thờ, chùa chiền. Tuy nhiên, nghiên cứu này không tách ra các cơ sở tôn giáo và các cơ sở xã hội cùng mang tính sắc tộc, vì có lẽ nó không nằm trong mục đích nghiên cứu của họ.
Trước kia tôi cứ nghĩ đơn giản rằng, khi chúng ta cúng dường cho chùa, cho tăng ni, thì cũng giống như chúng ta ủng hộ tiền bạc cho các trường đại học. Chẳng phải là chúng ta gọi các sư là thầy đó sao! Tôi tự biện luận rằng, chúng ta ủng hộ tiền bạc cho trường đại học, cho các giáo sư, là để trả ơn họ đào tạo con em chúng ta thành người hữu ích, có kỹ năng kiếm sống tốt trong xã hội, tiền bạc chúng ta ủng hộ các trường đại học là để họ tạo nhiều điều tốt cho xã hội. Tương tự như vậy, chùa chiền và các vị tu sĩ sẽ dùng tiền cúng dường của chúng ta để hướng dẫn tâm linh cho mọi người, tạo nhiều điều tốt cho xã hội.
Nhưng dường như quan niệm của Phật tử người Việt không phải như vậy, người ta coi trọng tâm linh hơn là xã hội.
Tôi có quen biết một tổ chức xã hội lớn ở San Francisco. Tiền thân của tổ chức này đã từng giúp đỡ tái định cư cho hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam trên đất Mỹ. Hiện nay họ thực hiện những công việc xã hội như là trợ giúp thực phẩm cho người nghèo, điền đơn xin bảo hiểm y tế, làm giúp đơn xin hoạt động thương mại,… Tổ chức này cũng nhận tiền ủng hộ từ dân chúng (donation), nhưng hầu như không có gì. Tiền họ nhận được để hoạt động, là từ ngân sách của thành phố San Francisco, tiểu bang California, và liên bang.
Ông Sơn Lê, làm việc cho cơ quan kết nối các tổ chức dân sự thuộc văn phòng thống đốc California, nói với tôi rằng người ta sẵn sàng ủng hộ chùa chiền vì nghĩ đến … Niết Bàn, chứ những vấn đề xã hội ngay trước mắt người ta không cảm thấy phải giúp.
Tất nhiên, nhiều cơ sở Phật giáo Việt Nam ở Mỹ cũng đóng góp nhiều vào hoạt động xã hội. Chẳng hạn như, ở San Jose, một trong những thành phố đông người Việt nhất bên ngoài Việt Nam, có một ngôi chùa lớn đã biến thành nơi chích ngừa Covid trong đại dịch.
Con đường của một cơ thể sống
Dù có ý chê trách thế nào đi nữa thì ai, bao gồm cả tôi, đều phải công nhận rằng tinh thần ủng hộ chùa chiền và tăng ni vô cùng mạnh mẽ đã tạo nên một diện mạo lớn lao và đa dạng của Phật giáo Việt Nam ở Mỹ, với những cơ sở khang trang khắp cả nước. Sự ủng hộ nhiệt tình này của Phật tử Việt Nam, dù là dựa trên niềm tin đi nữa, hay chỉ là khát vọng Niết Bàn, cũng giúp đỡ một cộng đồng tăng ni đông đảo, trong đó có nhiều vị tài giỏi.
Một đại đức xuất thân từ pháp môn Làng Mai của thiền sư Nhất Hạnh nói với tôi rằng, thuở ban đầu của Làng Mai cũng có sức bật lên từ sự nhiệt tâm của Phật tử Việt Nam.
Sự nhiệt tâm của Phật tử gốc Việt Nam, thế hệ di dân đầu tiên, cho Phật giáo, là vô bờ bến, không phải dựa trên tâm lý “tiền trao cháo múc”… như những Phật tử gốc phương Tây, hay những người Việt thế hệ thứ hai trở đi.
Và trong cộng đồng các tu sĩ, có nhiều vị rất liêm chính, chỉ muốn cống hiến công sức của mình cho Đạo, giúp đỡ chúng sinh bớt khổ đau. Tôi có biết hai vị tăng, một vị trụ trì một ngôi chùa ở California, một vị ở Hawaii. Ngoài việc giảng pháp và cúng kiếng cho nhu cầu tín ngưỡng, cả hai vị đều đi làm việc kiếm sống như một người bình thường. Hai thầy nói với tôi rằng, các thầy không muốn sống dựa vào cúng dường của bá tánh. Một thầy làm viên chức cho trường đại học Berkeley ở California hơn 20 năm qua, cuối tuần thầy giảng Pháp cho đạo tràng. Thầy kia chạy Uber và làm công việc xây cất nhỏ để kiếm sống ở Hawaii. Cả hai thầy đều được các thành viên đạo tràng rất kính trọng.
Vị thầy ở Hawaii nói với tôi rằng, ông không lo ngại về tương lai Phật giáo Việt Nam, cho dù có vẻ như có nhiều nhiễu nhương trước mắt, vì Phật giáo là một cơ thể sống động, tồn tại đã hơn 2500 năm nay.
San Francisco, Mùa Phật Đản Sinh, Phật lịch 2570
No comments:
Post a Comment