Saturday, April 4, 2026

VNTB – Hà Nội: Vẽ trăm năm có sợ lỗi thời
Tô Kiên
05.04.2026 2:55
VNThoibao

(VNTB) – Quy hoạch trăm năm là một đầu bài nhân văn, nhưng giá trị không nằm ở việc vẽ trước tương lai

 Cuối tuần trước, tôi được mời góp ý cho đồ án Quy hoạch tổng thể thủ đô tầm nhìn 100 năm. Hy vọng nhiều, băn khoăn cũng không ít – từ tiến độ gấp gáp tới sự lệch pha tiếp cận.

Chủ trương xoay trục tư duy lập quy hoạch này là một quyết định táo bạo và tích cực. Nó tích hợp hai quy hoạch tổng thể (master plan) với tầm nhìn tới 2050 đã phê duyệt thành một quy hoạch duy nhất để khắc phục chồng chéo, đồng thời “nâng cấp” đưa thêm khung chiến lược tổng quát (concept plan) với tầm nhìn lên tới 100 năm.

Tầm nhìn 100 năm gần như không có tiền lệ. Thụy Điển có Kịch bản Khí hậu 2100 nhưng chủ yếu tập trung vào biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Singapore lập concept plan nhưng tầm nhìn tối đa 50 năm, không đi vào chi tiết hình thái mà tập trung vào cấu trúc lớn, dự báo dân số và nhu cầu kinh tế dài hạn, đồng thời đặt ra các mục tiêu xuyên suốt như “thành phố trong thiên nhiên”.

Đồ án quy hoạch Hà Nội được soạn công phu hơn nghìn trang thuyết minh cùng hàng chục bản vẽ khổ lớn, nhưng lại chỉ cho toàn xã hội 10 ngày để biết tới, đọc, hiểu và phản hồi. Các hội thảo tham vấn chuyên gia vừa diễn ra, ít ngày sau đồ án đã được thông qua. Điều này cho thấy khâu tham vấn chưa phát huy vai trò và đáng lẽ cần làm chậm và chắc hơn.

Điều đầu tiên tôi nhận thấy là sự lệch pha trong cấu trúc.

Bản quy hoạch cho cảm giác “khung chưa vững – hình đã thành” với nhiều bản vẽ mô tả hình thái không gian chi tiết và thiết kế đô thị có hình hài rõ ràng – phong cách master plan quen thuộc. Trong khi đó, phần concept plan 100 năm – nơi cần tầm nhìn đột phá – lại khá mờ nhạt.

Những bản vẽ chi tiết giúp công chúng dễ hình dung, nhưng khi cố chi tiết hóa tầm nhìn cả thế kỷ, bản quy hoạch tự buộc mình vào những con số đóng khung, những phối cảnh cụ thể và các giả định dễ lỗi thời trong tương lai bất định. Không ít đồ án tầm nhìn 50 năm ở Trung Quốc phải điều chỉnh lớn chỉ sau 15-20 năm.

Càng kéo dài tầm nhìn, trọng tâm càng cần chuyển từ “bản vẽ” sang “kịch bản”, từ mô tả sang định hướng, để thích ứng với những biến số bất định của công nghệ, môi trường và xã hội.

Tuy đồ án đưa vào được nhiều xu hướng mới về phát triển bền vững, nó vẫn thiếu hệ nguyên lý và mô hình quy hoạch rõ ràng, thiếu cơ sở dự báo vững chắc, thiếu khung chiến lược đủ mở và thiếu các kịch bản đa chiều. Đồ án cũng chưa tính toán ngưỡng hấp thụ và chịu tải của hệ sinh thái như đất, nước hay không khí. Nếu quy hoạch phát triển vượt giới hạn tự nhiên, chi phí sửa sai sau này sẽ gấp nhiều lần phòng ngừa ban đầu.

Thay vì bắt đầu từ dự báo dân số rồi suy ra nhu cầu và không gian – như thể tự nhiên có thể co giãn theo con người – cần đảo chiều: đi từ giới hạn sinh thái, xác lập ngưỡng chịu tải, rồi mới tính đến dân số và phát triển. Đây là cú xoay trục tư duy lớn, từ “quy hoạch theo nhu cầu” sang “quy hoạch theo giới hạn của tự nhiên”.

Hạn chế hiện ra ở các giả định nền tảng, đặc biệt là về dân số – yếu tố đầu vào của quy hoạch đô thị. Cả ba kịch bản trong đồ án đều giả định dân số tăng dần và đặt mục tiêu ổn định dưới 20 triệu sau năm 2065. Nhưng nhiều quốc gia, từ Nhật Bản, Hàn Quốc tới Trung Quốc, đang theo chiều ngược lại: già hóa nhanh, tỷ lệ sinh và dân số giảm. Việt Nam cũng đang bước vào giai đoạn già hóa nhanh, với tốc độ thuộc nhóm cao trong khu vực.

Nếu quy hoạch đặt trên một kịch bản tăng trưởng cơ học như vậy, rủi ro là toàn bộ cấu trúc không gian và hạ tầng được xây dựng trên một giả định có thể sai số lớn. Trong khi đó, mỗi lần công bố quy hoạch lại có thể kích hoạt phản ứng xã hội rất nhanh và mạnh: từ thông tin di dời hàng trăm nghìn dân gây hoang mang, đến làn sóng sốt và trục lợi bất động sản ven đô, rồi những quan ngại: đất di dời cơ sở lớn khỏi nội đô sẽ biến thành mảng xanh, tiện ích công cộng và hạ tầng xã hội, hay lại thương mại hóa.

100 năm đủ dài để mọi thứ thay đổi. Biến đổi khí hậu có thể nhanh hơn nhiều dự báo. Công nghệ có thể thay đổi hoàn toàn cách con người sống, làm việc và di chuyển. Những cú sốc đại dịch, thuế quan hay xung đột địa chính trị có thể chóng vánh tái định hình kinh tế và chuỗi cung ứng toàn cầu, với tác động vượt xa mọi phỏng đoán.

Trong một thế giới như vậy, quy hoạch không thể là một đường thẳng tuyến tính. Nó phải là một tập hợp các kịch bản cùng hướng giải pháp đi kèm, gồm cả kịch bản xấu về dân số, khí hậu cực đoan hay phát triển kinh tế.

Tại Jakarta, khai thác nước ngầm quá mức khiến thành phố lún nhanh, kèm kẹt xe, ngập lụt và ô nhiễm không khí nặng nề, phơi bày giới hạn chịu đựng của đô thị và buộc phải dời thủ đô. Tokyo cũng từng bê-tông hóa quá độ thời kỳ đỉnh cao phát triển kinh tế cuối thập niên 1990, diện tích trữ nước tự nhiên bị thu hẹp, buộc phải “vá lỗi” để tránh vượt ngưỡng.

Tôi từng tham quan hệ thống xả lũ ngầm khổng lồ G-CANS – “ngôi đền trong lòng đất” tạm trữ nước lũ rồi bơm trả ra sông. Nhưng đó không phải biểu tượng của quy hoạch hạ tầng tầm nhìn xa từ đầu, mà là cái giá đắt 2,6 tỷ USD phải trả khi giới hạn tự nhiên chạm ngưỡng.

Hà Nội đi sau, không nên dồn tiền vào bể ngầm quá khổng lồ tới 125 triệu m3, tức hơn 200 lần G-CANS, vừa tốn kém vừa dễ thất thoát, mà dồn nguồn lực nhiều hơn vào hạ tầng xanh chống ngập: hồ điều hòa, kênh sinh thái, vườn mái, vườn mưa, vỉa hè thấm, chuyển đê cứng sông Hồng sang đê mềm cho phép bán ngập kiêm không gian công cộng, như Nhật Bản và Hàn Quốc đã làm.

Một tầm nhìn dài sẽ đi qua nhiều nhiệm kỳ lãnh đạo và cả chu kỳ chính sách vốn chỉ 5-10 năm. Nếu không được thiết kế như một khung chiến lược đủ mở, quy hoạch sẽ liên tục bị kéo về các ưu tiên ngắn hạn.

Những điều chỉnh không đến bằng thay đổi lớn mà bằng vô số thay đổi nhỏ tích lũy theo thời gian. Quy hoạch không vỡ ngay mà bị bào mòn.

Quy hoạch dài hạn cần phải là hệ vận hành mở có khả năng cập nhật, thích ứng và tự điều chỉnh. Singapore rà soát Concept Plan định kỳ khoảng mỗi 10 năm, cập nhật theo kịch bản dân số và công nghệ mới nhất. Còn thành phố Curitiba, Brazil trở thành hình mẫu thành công nhờ vai trò của tầm nhìn dài, cơ quan quy hoạch chuyên trách ổn định và sự nhất quán trong tư duy lãnh đạo cấp tiến qua nhiều nhiệm kỳ, trong suốt nửa thế kỷ.

Đồ án 100 năm đòi hỏi các cơ chế sống còn đi kèm: cơ chế tham gia thực chất của cộng đồng để tăng đối thoại xã hội; cơ chế vòng lặp hoàn thiện – nơi các kế hoạch luôn qua bốn bước thử nghiệm, phản hồi và điều chỉnh trước khi nhân rộng (kiểu PDCA hay sandbox thể chế); và cơ chế giám sát độc lập để bảo đảm tính minh bạch.

Cuối cùng là nguồn lực.

Đồ án đòi hỏi nguồn vốn khổng lồ và dài hạn để thực thi. Thu giá trị gia tăng từ đất (LVC) là cần thiết nhưng chưa đủ. Cần có thêm các cơ chế tạo dòng tiền dài hạn, như chuyển quyền phát triển (TDR) cùng sàn giao dịch để mua bán “quyền xây thêm” không dùng tới như ở quần thể ga Tokyo, thị trường tín chỉ carbon để mua bán “quyền phát thải” – cơ hội phát triển mảng xanh và rừng trong đô thị, cơ chế ưu đãi tư nhân xây metro được khai thác thương mại quanh các ga theo mô hình TOD, hay các công cụ thuế.

Quy hoạch trăm năm là một đầu bài nhân văn, nhưng giá trị không nằm ở việc vẽ trước tương lai, mà ở việc dựng một “hệ điều hành đô thị” đủ vững và đủ mở để đi qua biến động mà không lệch hướng.

Câu hỏi quan trọng không phải là sẽ xây gì, mà là khi thực tế trượt xa khỏi dự tính, chúng ta đã chuẩn bị sẵn các kịch bản nào và sẽ ứng xử ra sao.

Một concept plan chỉ có giá trị nếu giữ được định hướng khi mọi thứ đổi thay. Và chính điều đó quyết định, đến cuối thế kỷ, tầm nhìn ấy còn đúng hướng hay chỉ còn là di tích.

_______________________________

Nguồn:

VN Express – Hà Nội: Vẽ trăm năm có sợ lỗi thời

No comments:

Post a Comment