Trung Quốc đang mở rộng rạn san hô Hải Sâm (Linh Dương – Antelope) thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
Trương Nhân Tuấn
25-3-2026
Tiengdan
Báo chí quốc tế nhiều ngày qua đã đăng tin TQ đang xúc tiến việc nạo vét tại rạn san hô Antelope, tức Lingyang Jiao (Linh dương giao) theo Trung Quốc và Hải Sâm theo Việt Nam. Việc này bắt đầu từ tháng 10 năm 2025. Dựa trên hình ảnh vệ tinh, Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Washington cho biết khoảng 603 ha (1.490 mẫu Anh) đất đã được cải tạo tại Rạn san hô Antelope. CSIS cảnh báo rằng đảo này nếu hoàn tất sẽ vượt trội về diện tích so với các thực thể khác của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa, bao gồm cả đảo Phú lâm, hiện là trung tâm hành chánh của Trung Quốc ở Biển Đông.
Đảo Phú lâm chỉ rộng khoảng 360 ha. CSIS cho rằng “Nếu tiến độ xây dựng diễn ra như trong ảnh vệ tinh, rạn Linh Dương sẽ trở thành công trình lớn nhứt của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và có khả năng vượt trội so với các đảo ở Biển Đông. Đảo này có kích thước 608 ha, tương đương hoặc thậm chí vượt qua rạn Liễu Chiêu (Mischief – đảo Vành khăn) ở quần đảo Trường Sa”. Tức là khi hoàn tất, đảo này là hòn đảo nhân tạo lớn nhứt của Trung Quốc ở Biển Đông.
CSIS cho rằng: nếu rạn san hô Linh Dương được phát triển thành một cơ sở quân sự tương đương với các tiền đồn lớn khác của Trung Quốc, nó có thể “mở rộng phạm vi hoạt động của năng lực tình báo Trung Quốc đến gần hơn với bờ biển Việt Nam và cung cấp thêm năng lực cũng như sự dự phòng cho các lực lượng hải quân và không quân của nước này ở phía bắc Biển Đông”.
Điều cần nhắc lại, Trung Quốc cũng đã mở rộng đảo Tri tôn, tức đảo thuộc Hoàng Sa gần bờ biển Việt Nam nhứt trong các đảo, xây dựng trên đảo này phi trường, radar cùng những cơ sở có lẽ chỉ để phục vụ cho quân sự. Chuyện này xảy ra hồi tháng tám năm 2023.
Tình hình biển đảo như vậy là “rất tình hình”. Theo tôi thấy Việt Nam không có khả năng, về “sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm”, để có thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích của Việt Nam về hải phận EEZ của Việt Nam ở khu vực Hoàng Sa. Việt Nam tuy có bằng chứng lịch sử nhưng những bằng chứng này không có trọng lượng bằng những chứng từ pháp lý – nếu cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ngày nào đó được phân xử ở một trọng tài quốc tế.
Về pháp lý, yếu tố quan trọng hơn hết, các chuyên gia luật quốc tế (như bà giáo sư Monique Chemillier-Gendreau) cho rằng hồ sơ của chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa “chắc như bê tông”.
Vấn đề là có “hai Việt Nam”: VNDCCH (tiếp nối là CHXHCNVN hiện thời) và VNCH (đã diệt vong). Nếu Việt Nam hiện thời đứng trên danh nghĩa của VNCH thì tất cả, ngay cả Trung Quốc, cũng không thể phản biện được rằng quần đảo Hoàng Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam ít ra từ thời Gia Long. Nhưng Việt Nam hiện thời “khẳng định lập trường” rằng VNCH là “nguỵ”, chiến tranh Việt Nam là “chiến tranh giải phóng dân tộc” chớ không phải là “nội chiến”. Bà Giáo sư Joelle Duy Tan Nguyen có đặt vấn đề: Gọi VNCH là “nguỵ”, tức một thực thể “giả tạo”, thì Việt Nam dựa trên cái gì để kế thừa danh nghĩa chủ quyền của VNCH tại Hoàng Sa?
Với lập trường như vậy, lãnh đạo CSVN thà “mất đất mất biển” chớ không để “mất mặt”. Việt Nam sẽ phân định hải phận với Trung Quốc theo đường trung tuyến giữa đảo Tri Tôn và đảo Hải Nam, thay vì đường trung tuyến giữa đảo Phú lâm với đảo Hải Nam. Việt Nam có thể mất hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu cây số vuông biển EEZ cho Trung Quốc.
Cách đây vài năm, hầu như tuần nào tôi cũng viết vài ba bài về chủ đề “chủ quyền biển đảo của Việt Nam tại Biển Đông”. Mục đích phản biện các lập luận của học giả Trung Quốc về “chủ quyền bất khả tư nghị của Trung Quốc tại Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam)” đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở các quần đảo này. Đặc biệt tôi có theo dõi sát “cuộc chiến công hàm” giữa Trung Quốc và các quốc gia cận Biển Đông (và các đại cường hải dương như Mỹ, Anh, Pháp, Úc…) xảy ra tại Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa thuộc LHQ, vào các năm 2019-2020. Cuộc chiến công hàm âm thầm khép lại, vì phía Việt Nam đơn phương rút khỏi trận địa. Việt Nam không thể phản biện lại các lập luân của Trung Quốc trong công hàm 17 tháng tư năm 2020. Tức là Việt Nam đã thua thê thảm “cuộc chiến công hàm”. Điều này rất quan trọng. Việt Nam đã “thua” Trung Quốc về “luật”. Việt Nam không phản biện được Trung Quốc, có nghĩa là những gì Trung Quốc nói là “đúng”. Sự “im lặng” của Việt Nam trong trường hợp (bắt buộc phải lên tiếng) có nghĩa là “sự đồng thuận ám thị”.
Nội dung công hàm của Trung Quốc có nội dung (tạm dịch) như sau:
“Chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi. Chính phủ Việt Nam cũng đã công nhận nó một cách rõ rệt. Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Hoa ban hành Tuyên bố về lãnh hải rộng mười hai hải lý. Qui định (về lãnh hải) này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm quần đảo Đông sa, Tây Sa, Trung sa và Nam Sa cũng như tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc. Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi công hàm ngoại giao (note diplomatique) tới thủ tướng Chu Ân Lai, tuyên bố long trọng rằng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và ủng hộ tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung quốc về quyết định liên quan đến lãnh hải của Trung Quốc được đưa ra vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 và rằng chính phủ của Cộng hòa Dân chủ Việt Nam tôn trọng quyết định này. Trong những năm đầu của thập niên 1970, Việt Nam đã chính thức công nhận rằng Hoàng Sa và Trường Sa luôn là một phần của lãnh thổ Trung quốc kể từ thời cổ đại. Sự việc này đã được ghi lại trong các tuyên bố và các văn kiện của chính phủ, cũng như ở các bản đồ, sách giáo khoa và báo chí chính thức của Việt Nam.
Sau năm 1975, Việt Nam đã vi phạm “estoppel” (nguyên tắc không được nói ngược) và đưa ra yêu sách lãnh thổ bất hợp pháp đối với hai quần đảo Tây sa và Nam sa của Trung quốc. Việt Nam vi phạm mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, đã đưa quân xâm lược và chiếm đóng bất hợp pháp một số đảo và rạn san hô của Trung quốc ở quần đảo Trường Sa bằng vũ lực. Việt Nam cố ý kích động tranh chấp. Trung quốc luôn phản đối sự xâm chiếm và chiếm đóng bất hợp pháp của Việt Nam tại một số đảo và rạn san hô của Trung quốc ở quần đảo Trường Sa cũng như các hoạt động xâm phạm quyền và lợi ích của Trung quốc trong phạm vi tài phán của Trung quốc. Trung Quốc kiên quyết yêu cầu Việt Nam rút toàn bộ nhân sự và các cơ sở ra khỏi các đảo và rạn san hô mà họ đã xâm chiếm và chiếm đóng bất hợp pháp”.
Không biết bao nhiêu lần tôi lên tiếng rằng: nếu Việt Nam không ai có khả năng viết công hàm phản biện, thì chỉ cần nhà nước Việt Nam lên tiếng yêu cầu giúp đỡ, tôi sẽ xung phong viết giúp.
Vẫn thái độ cũ: CSVN thà mất đất, mất đảo, mất biển… nhưng nhứt quyết không để “mất lập trường”. Lập trường ở đây là “VNCH là “nguỵ”.
Gọi người ta là “nguỵ” thì làm gì có thể “kế thừa” di sản từ “nguỵ”? Nguỵ là giả. Kế thừa cái “giả” thì là “thật” được hay sao?
Không biết đã có bao nhiêu lần tôi kêu gọi “hoà giải quốc gia” để khẳng định chủ quyền biển đảo. Không thông qua thủ tục hoà giải, tức là nhìn nhận sự thật lịch sử như nó đã từng, thì lấy cái gì làm cơ sở pháp lý để tranh biện với người ta?
Việt Nam đã, đang và sẽ thua Trung Quốc toàn tập, ở Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Về lãnh thổ, những đảo mà Việt Nam hiện có tại Biển Đông là của Trung Quốc, đúng như sự nhìn nhận của chính phủ VNDCCH của Hồ Chí Minh qua công hàm 14-9-1958. Theo tôi mất đảo là “chuyện nhỏ”, nếu so với chuyện mất biển. Khi đường chữ U của Trung Quốc thành hiện thực thì Việt Nam chẳng còn cái gì.
No comments:
Post a Comment