Wednesday, March 11, 2026

Cảm nhận Berlin: Từ Rhinstrasse đến Đồng Xuân (Kỳ 1)
Nguyễn Thọ
11-3-2026
Tiengdan

Cuối tuần qua tôi lại quay về Berlin, nơi tôi trải qua tuổi trẻ những năm 1960 thế kỷ trước. Từ 1991 sang Köln định cư đến nay, tôi đã quay về Berlin cả chục lần và luôn chứng kiến sự thăng trầm của cộng đồng người Việt ở đây.

Những năm đầu sau thống nhất nước Đức, khi Chủ nghĩa Xã hội ở miền Đông sụp đổ thì mấy chục ngàn người Việt cũng mất phương hướng. Tự do và hàng hóa phương tây tràn vào không thay thế được mối lo thất nghiệp, nỗi sợ cho tương lai. Người ta tung tóe, đổ xô nhau buôn bán, chộp giật. Nhiều người lãnh tiền đền bù 3.200 DM để về nước, nhưng không ít kẻ sau khi tiêu hết số tiền đó lại “Đức quay”. Dù sao chộp giật ở một đất nước mà tất cả còn đang ngơ ngác vẫn dễ hơn xứ trời Nam, nơi “đánh quả” là phương sách ngự trị từ sau 1975. Thế là những “Ghetto cao tầng” lần lượt xuất hiện ở Đông Đức.

Đó là những tòa nhà lắp ghép 5-6 tầng với hàng trăm phòng ký túc xá, từng được CHDC Đức dành cho công nhân nước ngoài. Công nhân đi làm cả ngày, tối về nấu nướng ăn uống, may vá và cuối tuần là nơi trao đổi hàng hóa, mua bán, đóng thùng gửi hàng về nước. Tuy lối sống đậm chất nông dân Việt đã làm cho các “Chung cư thợ” (Arbeiterwohnheim) đó khác hẳn các tòa cao tầng của người Đức về tiêu chuẩn vệ sinh, sự ngăn nắp và tiếng ồn. Nhưng các ông quản lý người Đức vẫn giữ được chúng trong một khuôn khổ tạm chấp nhận được.

Bức tường Berlin đổ khiến nước CHDC Đức qua đời. Người Việt thất nghiệp chỉ biết tự nuôi sống bằng cách của mình. Tất cả các khu nhà tập thể đương nhiên trở thành cái chợ, thành nhà kho, văn phòng bán buôn, quán ăn, tiệm cắt tóc v.v. và v.v. Tòa nhà Rhinstrasse 85 từng là một trong những ghetto như vậy. Gọi là ghetto, vì chỉ có người Việt sống chen chúc trong đó, người Đức không dám bén mảng đến. Kể cả cảnh sát cũng ngại vào, nếu không có án mạng.

Năm 1994 tôi có việc phải vào đó. Thật khiếp đảm khi đi trong cái hành lang sặc một loại mùi hổ lốn từ thuốc là, mùi tanh cá và nước mắm pha dầu cù là, mờ mờ khói nhang. Tôi suýt phát nôn khi nhìn thấy một bồn tắm nước đỏ lờ lờ, chứa đầy lòng lợn, tanh mùi máu. Ông bạn rủ ngồi lại “làm bát cháo lòng với tiết canh!”, nhưng tôi phải bỏ chạy ngay.

Cả một thời kỳ dài hơn chục năm trời, báo chí Đức hay nhắc đến Zigaretten-Mafia (mafia thuốc lá) sau những vụ án mạng do tranh chấp lãnh địa và bảo kê. Tất cả người Việt kinh doanh đều khiếp sợ các băng đảng mang súng AK của “Bộ đội khu 4”. TV-Đức hay đưa những mẩu tin về ráp bố (Razzia) các khu chợ cóc bán quần áo, tạp phẩm của người Việt.

Niềm hân hoan thống nhất nước Đức đem lại cho người Việt từ hai miền cũng không kéo dài. Những ngày sau khi bức tường đổ, người Việt Tây Berlin giang tay đón những người đồng bào “mới được giải phóng”. Người miền Đông, được gọi là “Cộng”, tuy ngại ngùng nhưng cũng sẵn sàng đón nhận những cử chỉ đùm bọc của các bác “Kiều” miền Tây, vốn đã hội nhập vững vàng vào xã hội tư bản. Ngày đó không có “ba que” không có “bò đỏ, bò vàng”. Rồi “Kiều” giúp “Cộng” làm đơn xin tỵ nạn, xin trợ cấp xã hội mà không cần biết đến “hòa giải, hòa hợp dân tộc”.

Chỉ một thời gian sau, sự khác biệt về văn hóa, về lối sống lại xé hai cộng đồng này ra khỏi nhau. Các bác “Kiều” quay lại với nhau trong các hội “Người Việt ty nạn”. Ngày Tết ngày lễ họ vẫn tụ họp, dưới lá cờ tam tài và bài ca “Tiếng gọi công dân” [1] để nhớ về quê hương.

Ở Đông Berlin các hội “Đồng hương”, “Phụ nữ”, “Cựu chiến binh” mọc lên như nấm. Ngày Tết, lễ bà con vẫn quây quần, quân phục, quân hàm, hát vang bài ca “Năm anh em…”, hoặc “Như có Bác Hồ…”, bất kể là đang đang xin tỵ nạn chính trị hay bán thuốc lá chui.

Bức tường trong đầu bỗng mọc lên, vô hình nhưng sừng sững.

Giữa vết cắt Bắc – Nam đó có một thứ không thể bị xé. Đó là những gia đình “xuyên vĩ tuyến”. Khối chàng sinh viên miền Nam đã yêu cô thợ dệt, thợ may Bắc. Có anh bộ đội Bắc sau ra quân được sang Đông Đức “đổi đời”. Chưa kịp đóng hòm to, hòm nhỏ gửi về thì nhà máy sập tiệm. Mò sang Tây Đức làm phụ bếp tiệm ăn chưa lâu anh đã phải lòng cô gái con ông chủ gốc Nam.

Nhiều mối tình vẫn bền đến hôm nay.

***

Dân tộc Đức cũng không thoát khỏi bức tường vô hình trong đầu. Sau những ngày ôm nhau trong nước mắt, mừng hội ngộ, Đông Đức trở về với bi kịch của chế độ bao cấp XHCN đang đổ vỡ. Các xí nghiệp quốc doanh đều đóng cửa vì dùng đồng DM để thanh toán nên mất hẳn sức cạnh tranh. Có nhà máy được bán với giá tượng trưng 1,0 DM mà cũng không ai mua. Thất nghiệp tràn lan. Dân tình bỏ đi. Đông Berlin bỗng vắng vẻ điêu tàn với những con phố mà toàn bộ mặt tiền lở lói thảm hại. Người ta đổ tội cho bọn ngoại quốc làm cho họ mất việc, đổ tội cho bọn tư bản miền Tây sang đây bóc lột. Phát xít mới thắng thế. AfD đang dần trở thành lực lượng chính trị mạnh nhất Đông Đức.

Nước Đức thống nhất không tốn viên đạn, không ai bị trả thù, một cô đoàn viên chế độ cũ được làm thủ tướng suốt 16 năm. Sách báo, phim ảnh XHCN nay vẫn lưu hành… Vậy mà bức tường trong đầu vẫn xuất hiện. Thế thì cái hố ngăn cách giữa người Việt với nhau không hề dễ xóa bỏ, khi vẫn còn nhiều kẻ cố tình hay vô ý cầm xẻng đào tiếp.

***

Tuy người Việt và người Đức khác nhau rất nhiều, nhưng có một điều giống nhau không thể chối cãi, đó là tính chăm chỉ, cần cù. Một chính khách nào đó của Đức từng nói: “Người Việt là người Phổ Á châu” (Vietnamesen sind die Preussen Asiens). Đức tính chung này cùng đưa đến một kết quả: Đông Đức sau 30 vất vả, khốn khổ nay đã hồi phục. Hôm nay tôi không thể phân biệt được là mình đang đi ở Đông hay Tây Berlin nữa.

Những người Việt bán thuốc lá lậu, bán rau, bán hoa, quần áo cũng vậy. Họ đã thoát khỏi cảnh rét run đứng bên cạnh xe hàng từ sáng đến tối, lúc nào cũng lo bị cảnh sát chộp. Một tầng lớp doanh nhân mới đã hình thành và những trung tâm thương mại Đồng Xuân, Thái Bình Dương ra đời để thay thế những ghetto Rhinstrasse.

Tất cả các bước thăng trầm này cũng được Minh Thứ, một cậu em rất giang hồ ở Berlin kể lại trong cuốn “Những Mảnh Đời Phiêu Bạt” [2] bằng lối viết sinh động và chân thực.

***

Nhưng cho dù là Đồng Xuân, Thái Bình Dương, Sapa (Praha) hay Chợ Hổ (Budapest) thì chúng vẫn là những “cái chợ” kiểu Việt Nam theo đúng nghĩa. Cho dù chính quyền Berlin đã đặt tên cho bến tàu điện “Herzbergstr./Dong Xuan”, thì công an và phòng thuế vẫn coi đây là địa bàn hoạt động của mafia và bọn trốn thuế.

Có lần tôi vào một quán ăn khang trang trong chợ, bỗng ngạc nhiên nhìn thấy khẩu hiệu “Chào mừng đồng chí A, uy viên TƯ Đảng, Bộ trưởng bộ B. đến thăm Berlin! Ngày… tháng”. Mặc dù đã một tuần trôi qua mà tấm khẩu hiệu vẫn hiên ngang treo trên cái sân khấu có đàn organ, bộ trống kèn sáng lòe, như muốn kéo dài cảm giác tự hào cho ông chủ quán.

Sự vươn lên từ Rhinstrasse đến Đồng Xuân là không nhỏ, nhưng vẫn thiếu vắng chất văn hóa đáng phải có sau 35 năm hội nhập.

Tôi đến Berlin lần này để giới thiệu sách “Xuyên Qua Mọi Chiến Tuyến”. Buổi họp mặt đã được các bạn Thu Ha Do, và Nguyen Ngoc Hoa chuẩn bị chu đáo, với sự ủng hộ của Madam Tuyết. Anh Phạm Duy Thoại Thoai Pham, giáo sư nhãn khoa và bạn Trương Hồng Quang, một nhà nghiên cứu văn học Đức/Việt nhận giúp đỡ về nội dung.

Những gì cảm nhận được trong hai ngày tại trung tâm sự kiện Madam Tuyết Herzbergstr. 57 đã khiến tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

(Còn tiếp)

_____

[1] “Tiếng Gọi Thanh Niên”, nhạc và lời Lưu Hữu Phước 1941. Năm 1956 nhà nước VNCH đổi thành “Tiếng gọi Công Dân” và coi là quốc ca.

[2] Minh Thứ, Những Mảnh Đời Phiêu Bạt. NXB Văn Học 11.2025

No comments:

Post a Comment