Friday, June 19, 2026

Thêm thông tin về đứa con vô thừa nhận của “lãnh tụ kính yêu”
BTV Tiếng Dân
18-6-2026

Ngày 16-6 vừa qua, Đại tá Nguyễn Tất Trung đã vĩnh viễn ra đi, mang theo xuống mồ nhiều bí mật về thân phận mà chế độ này luôn muốn che giấu. Tuy nhiên, những gì ông để lại trên cõi đời này vẫn phần nào hé lộ sự thật về con người và số phận của ông.

Ảnh chụp dịp sinh nhật ông Nguyễn Tất Trung (thứ hai từ trái), tại nhà hàng Chả Cá Thăng Long, số 21 Đường Thành, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngồi bên trái là vợ ông, bên phải là con trai, dâu và cháu nội của vợ chồng ông. Nguồn: Chu Trung

Gần 43 năm trước, ngày 29-7-1983, một nhóm thương binh đã gửi thư đến ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội lúc bấy giờ, đồng thời gửi cho Tổng Bí thư Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Phó Thủ tướng Phạm Hùng. Kèm theo bức thư là câu chuyện của một người đồng đội của họ, cũng là một thương binh đang ở những ngày cuối đời. Trước khi nhắm mắt, ông muốn nói ra sự thật mà mình đã âm thầm chịu đựng suốt 25 năm.

Bức thư này cũng được gửi đến nhiều người khác, trong đó có Giáo sư Stephen B. Young. Theo lời GS Young, khi nhận được bản fax và đọc nội dung, ông đã không tin những điều được kể trong đó. Mãi đến thập niên 1990, khi gặp nhà báo Bùi Tín và nhà văn Vũ Thư Hiên tại Paris, và được cả hai xác nhận những chi tiết trong bức thư là có thật, ông mới thay đổi nhận định của mình.

Có thể một số bạn đọc đã biết đến nội dung bức thư này, nhưng chưa từng được xem bản gốc. Mới đây, GS Stephen B. Young đã gửi cho chúng tôi bản sao nguyên văn của bức thư và đề nghị phổ biến rộng rãi để bạn đọc Tiếng Dân có dịp tìm hiểu đầy đủ hơn về câu chuyện lịch sử đặc biệt này.


 


 

 


  

***

Dù chế độ này không chính thức thừa nhận cha mẹ của Đại tá Nguyễn Tất Trung là ai, nhưng không ai có thể phủ nhận một sự thật hiển nhiên: Ông không thể tự nhiên xuất hiện trên cõi đời mà không có cha, có mẹ. Thế nhưng suốt hơn bảy thập niên tồn tại, ông dường như bị buộc phải sống trong một khoảng lặng đầy nghịch lý – biết sự thật nhưng không được quyền gọi tên sự thật ấy.

Bản cáo phó dưới đây phần nào phản ánh nỗi chịu đựng mà ông mang theo cho đến tận phút cuối. Ngày sinh của Nguyễn Tất Trung (Vũ Trung) được ghi là 27-6-1954, tức lùi lại hai năm so với năm sinh lâu nay vẫn được nhiều nguồn tài liệu đề cập là 1956. Chi tiết tưởng như nhỏ nhặt ấy lại gợi lên một câu hỏi lớn: Vì sao ngay cả khi ông đã qua đời, những dấu vết liên quan đến thân phận của ông vẫn tiếp tục bị che phủ?

Cáo phó ghi ngày sinh của Nguyễn Tất Trung (Vũ Trung) là ngày 27-6-1954, lùi lại 2 năm, thay vì năm 1956. Cho dù ông đã ra đi, nhưng người ta vẫn muốn sự thật về ông theo ông xuống mồ.

Có lẽ đó là bi kịch lớn nhất của cuộc đời Nguyễn Tất Trung. Ông không bị kết án bởi một tòa án nào, không phải chịu cảnh lao tù hay lưu đày, nhưng lại phải mang một bản án âm thầm kéo dài hơn nửa thế kỷ: Bản án không được công nhận nguồn gốc của chính mình. Người mẹ đã chết trong oan khuất, còn người con sống cả đời dưới cái bóng của một bí mật mà ai cũng biết nhưng không ai được phép nói thành lời.

Giờ đây, khi ông đã nằm xuống, sự thật vẫn chưa được chính thức thừa nhận. Dường như có những người muốn ông mang theo tất cả xuống mồ, để lịch sử tiếp tục được viết theo cách thuận tiện cho quyền lực. Nhưng lịch sử có thể bị trì hoãn chứ không thể bị chôn vùi mãi mãi.

Cái chết của Nguyễn Tất Trung khép lại một cuộc đời nhiều bất hạnh, nhưng đồng thời cũng nhắc lại một câu hỏi mà chế độ chưa bao giờ trả lời được một cách minh bạch: Tại sao một con người lại phải sống cả đời trong cảnh không được công nhận chính thân phận của mình?

***

Viết về Nguyễn Tất Trung cách đây gần hai thập niên, nhà báo Bùi Tín đã phải thốt lên: “Không thể bất công kéo dài đến vậy!”. Thế nhưng, cho đến hôm nay, khi Đại tá Nguyễn Tất Trung đã vĩnh viễn từ giã cõi đời, nỗi bất công mà ông mang theo suốt 70 năm qua vẫn chưa được hóa giải.

Ông ra đi, mang theo những ẩn khúc về thân phận và quyền được thừa nhận của mình, để lại phía sau những câu hỏi còn dang dở về công lý, sự thật và trách nhiệm của những người liên quan. Cuộc đời ông, từ khi còn là một đứa trẻ cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, dường như luôn bị phủ bóng bởi những bí mật mà không phải do chính ông tạo ra.

Nhân sự kiện Đại tá Nguyễn Tất Trung qua đời, chúng tôi xin giới thiệu lại bài viết của nhà báo Bùi Tín, gửi Giáo sư Stephen B. Young gần 20 năm trước. Bài viết này sau đó cũng đã được ông Bùi Tín phổ biến rộng rãi trên mạng như một lời lên tiếng cho sự thật lịch sử và cho số phận của một con người đã phải sống cả đời trong cảnh không được nhìn nhận đầy đủ về nguồn cội của mình.

***

Bùi Tín

Trong các triều đình cộng sản, thật với giả, giả với thật cứ lộn nhèo với nhau, nhiều chuyện khó tin nhất có khi lại là thật, có chuyện ngỡ là của thiệt lại là của giả…”

Trên đây nói về ông Hồ Sĩ Tạo là người ông nội thật sự của ông Hồ Chí Minh, về Vương Chí Nghĩa là em út cùng cha khác mẹ với ông Hồ Chí Minh, về Thượng tọa Thích Chân Quang (Vương Chí Việt) là cháu gọi ông Hồ Chí Minh là bác ruột, về cả chuyện ông Hoa Quốc Phong nay được biết rõ là con cả theo huyết thống của Mao Trạch Đông… chỉ để nói đến trường hợp anh Nguyễn Tất Trung.

Tất cả những sự thật trên đây đều bị chế độ cộng sản phủ nhận, đi với những sự giả dối và bịa đặt bị cưỡng bức là sự thật. Chế độ độc quyền đảng trị ép mọi người phải hiểu rằng ông nội của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Nhậm chứ không phải là Hồ Sĩ Tạo, rằng ông Hồ chỉ có chị cả là cô Thanh, có bí danh là Bạch Liên, người anh là ông Nguyễn Tất Khiêm, còn gọi là ông Khơm, và em út là Xin chết sớm sau khi sinh vào năm 1904 (Mậu Tuất), chứ không có anh chị em nào khác.

Một trong những nạn nhân bi thảm kéo dài nhất của kiểu lừa dối trên đây là anh Nguyễn Tất Trung, con của ông Hồ Chí Minh và cô Nông Thị Xuân, một cô gái Tày quê ở làng Nà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Cô được Trần Đăng Ninh, chủ nhiệm hậu cần quân đội chọn rồi đưa về Hà Nội nhằm ”phục vụ” ông Hồ. Cô được bộ công an của Trần Quốc Hoàn quản lý, giấu tại ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông thợ nhuộm, để hàng tuần đưa vào phục vụ ông Hồ một hai đêm. Mối quan hệ ấy đưa đến kết quả là cô Xuân cho ra đời vào cuối năm 1956 một cháu bé được ông Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung theo họ cũ của mình (Nguyễn Tất Thành).

Trần Quốc Hoàn nổi tiếng dâm loạn, đã nhiều lần cưỡng hiếp cô Xuân, bị cô chống lại quyết liệt, có cô Vàng là em họ ở cùng phòng với cô Xuân biết rõ. Nhiều lần con quỷ râu xanh này trói cô Xuân vào giường để cưỡng hiếp, hắn còn đe dọa hai cô không được hé môi nói với ai, nhất là không được bẩm báo ông Hồ. Hoàn còn giương súng ngắn đe nẹt hai cô rằng: ”chúng mày liệu hồn, đến ông Hồ cũng nằm trong tay tao đây, hiểu chưa?”.

Thế rồi sau một cuộc cưỡng hiếp cực kỳ thô bạo, tên Hoàn sợ rằng cô Xuân sẽ báo với ông Hồ, Hoàn liền dựng lên một tai nạn xe ô tô trên đường đê gần làng Chèm vào tờ mờ sáng để thủ tiêu cô.

Ông Nguyễn Minh Cần lúc ấy là phó chủ tịch uỷ ban nhân dân Hà Nội đã biết rõ vụ án mạng này, với những biên bản khám mổ tử thi của bệnh viện Việt – Đức. Sau đó cô Vàng bị đuổi về Cao Bằng và ”chết đuối” trong một nghi án trên sông Bằng Giang; chồng chưa cưới của cô Vàng khẳng định hung thủ là tay chân của Trần Quốc Hoàn, kẻ sát nhân muốn bịt hết kẽ hở về tội ác của mình.

Những nạn nhân một cuộc án mạng giữa cung đình:

Cô Xuân, cô Vàng, anh thương binh nặng chồng chưa cưới của cô Vàng đều là những nạn nhân của chế độ toàn trị giả đạo đức, hiện còn ngậm đắng nuốt cay dưới suối vàng vì nỗi oan khiên của họ vẫn chưa được làm sáng tỏ; bọn tội phạm bất nhân của một chính quyền đàn áp lấy công an làm nòng cốt vẫn còn lộng hành.

Ở đây, lúc này, toàn xã hội ta cần đặc biệt chú trọng đến số phận, đến nỗi oan khiên đeo đẳng một con người còn sống và gia đình anh, đó là anh Nguyễn Tất Trung, đứa con không được thừa nhận của ông Hồ Chí Minh và cô Nông Thị Xuân.

Đã 51 năm nay, hơn nửa thế kỷ, anh Trung sống lay lắt về mặt pháp lý, không có giấy khai sinh thật, không được nhận cha đẻ của mình, không được nhận mẹ đẻ của mình,chưa được một lần thăm mộ và thắp hương trên mộ mẹ; anh không được về quê hương bản quán quê nội cũng như quê ngoại để nhận bà con họ hàng, không được biết, và dù biết cũng không được nhận ai là ông bà, chú bác, anh chị em, con cháu ruột thịt của mình.

Cả cuộc đời anh và đời vợ con anh bị đặt trong thế bất công và phi lý, không có một văn bản pháp lý nào quy định, sống không có căn cước thật, bị xô đẩy, đưa qua chuyển lại tùy tiện theo ngẫu hứng của giòng đời. Trung chỉ được yên ấm trong lòng mẹ Xuân và trong vòng tay êm ái của dì Vàng có vài tháng ngắn ngủi, để rồi côi cút, cô đơn, không hiểu gì cho rõ về cuộc đời mình. Ông Sao Đỏ – Nguyễn Lương Bằng – đưa bé Trung về gia đình được vài tháng trong năm 1957, rồi giao lại cho gia đình tướng Chu Văn Tấn [*] trên Thái Nguyên vài năm. Sau đó, các bà Hội phụ nữ cứu quốc trung ương đưa chú bé vào trại mồ côi của Hội, rồi vào trường Nguyễn Văn Trỗi dành cho con liệt sĩ.

Vào những năm 1967 – 1968, cậu bé Trung thông minh, nhanh nhẹn, bắt đầu tìm hiểu thế giới xung quanh, cũng bắt đầu tò mò về căn cước thật của mình, thì hai đợt ốm nặng ập đến, có lúc tưởng như không qua khỏi. Bóng đen của tên ”lưu manh xứ Nghệ” trở thành trùm công an cộng sản – quỷ dâm ô Trần Quốc Hoàn lại hiện ra. Tên này lo sợ bị lật tẩy, đã dùng thủ thuật an ninh cộng sản được thầy Tàu tiếp tay, cho cậu bé uống và tiêm nhiều lần thuốc độc, thuốc lú, gây thần kinh hỗn loạn, khi quên khi nhớ, có lúc như ngớ ngẩn, có khi ngồi thừ vô cảm hàng buổi, mất hẳn sinh khí, như kẻ vô hồn. Ông Hồ mất vào tháng 9-1969 khi cậu Trung vừa ra khỏi cơn ốm dài. Trước khi mất, ông chỉ mong được đi gặp Cụ Mác cụ Lê, quên khuấy còn có đứa con bị bỏ rơi đang băn khoăn về lý lịch thật của mình.

Cái may cho cậu Trung là sau khi ông Hồ mất, ông Vũ Kỳ, thư ký riêng lâu năm (từ năm 1948) của ông Hồ đón Trung về gia đình, nhận Trung làm con nuôi, coi như con đẻ của mình, đi học trường phổ thông Chu Văn An cạnh Hồ Tây cùng 2 con ông là Vũ Quang và Vũ Vinh, cùng độ tuổi với Trung. Đây là thời kỳ ổn định, ấm cúng nhất của anh Trung, nhưng bệnh đau đầu dai dẳng không cho anh vào được trường Đại học. Ông Vũ Kỳ còn quan tâm đến việc lập gia đình cho Trung, và đám cưới được tổ chức khi anh 32 tuổi, vào năm 1988, với cô Lưu Thị Duyên, thuộc một gia đình bình thường. Anh chị có một cháu trai kháu khỉnh, sinh năm 1992, đặt họ và tên là Vũ Thanh, sau đổi là Nguyễn Thanh Trung, vì tuy Trung rất quý ông Vũ Kỳ, nhưng vẫn nuôi ý muốn tìm trở về gốc gác thật của mình.

Trong xã hội Việt nam suốt nửa thế kỷ qua, không có một con người nào sống trong tình trạng cay đắng đặc biệt như anh Trung. Anh bị mất quyền được là mình. Anh luôn phải đeo chiếc mặt nạ. Anh không có cha thật, mẹ thật, anh chị em thật của mình. Anh là người công dân lương thiện cực hiếm trong xã hội không có căn cước thật. Anh không hề có một tội nào dù là nhỏ nhất. Thắc mắc về cội nguồn, anh có chăng? biết hỏi ai cho ra lẽ? Anh tự biết, nếu hỏi với người cai quản anh, có khi mang vạ vào thân. Vì anh có thể lờ mờ hiểu rằng người đẻ ra anh có liên quan đến nhiều vụ án mạng kinh khủng. Anh ngại, anh sợ. Nhiều người biết, và họ thấy ở anh luôn có sự không bình thường; bệnh trầm cảm, phẫn chí, lầm lì, tâm thần bất định… luôn bám chặt anh.

Thời minh bạch và hội nhập, sự giải thoát

Chúng ta hãy tưởng tượng nỗi hận đời trong lòng anh Nguyễn Tất Trung, khi tâm trí anh đã trở lại gần như bình thường 5, 6 năm nay, như một số anh em trong nước cho biết, sau khi ”thuốc lú ” độc ác đã tiêu tan với thời gian. Bao nhiêu câu hỏi ” vì sao ? ”, ” vì sao ? ” gậm nhấm tâm hồn anh. Vì sao anh lại phải sống u ẩn, trong bóng tối mãi thế này ? Vì sao mình lại không được là mình ? phải mang mặt nạ kỳ quặc mãi thế này? Cái quý nhất của con người là căn cước riêng biệt để phân biệt với mọi người khác đã bị tịch thu vĩnh viễn. Quyền cao quý nhất là quyền được làm một con người, được là chính mình đã bị tước đoạt. Một điều phi lý bất công anh có vẻ không sao hiểu và chịu nổi.

Nguyễn Tất Trung thăm hang Pắc Bó, ngồi bên hòn đá, có ghi: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ngồi tại đây để dịch cuốn Lịch sử đảng CS Liên Xô vào năm 1941 ở Hang Pắc Bó – Cao Bằng (suối Lê Nin)

Vẫn chưa hết. Câu hỏi ai oán nhất làm anh đau xót là về mẹ anh. Anh chỉ có một bức ảnh hơi mờ ảo về người mẹ xinh đẹp và hiền hậu của anh, đôi mắt sáng mà dịu, hàm răng hé trắng, mái tóc bồng, áo len cụt tay tự đan, ảnh quý chụp năm 1956 ngay sau khi sinh anh; nhưng còn thiếu cháy bỏng những di vật có thể còn – bộ quần áo, chiếc gương, lược – những hiểu biết về ông bà ngoại, về họ hàng thân thuộc ở Nà Mạ hiện còn là những ai để ngày nào đó anh sẽ đưa vợ con anh lên thăm.

Nỗi ám ảnh lớn là cái chết bi thảm của người mẹ yêu quý của anh đã diễn ra như thế nào vào sáng 12-2-1957 ấy, vì sao? Ai là thủ phạm? Mộ mẹ anh ở đâu sau khi mổ tử thi ở bệnh viện Việt – Đức thì người ta mang chôn nơi nào? Có ai chăm sóc nấm mộ thiêng ấy, bao giờ anh và vợ con anh được thăm viếng? Lại còn cái chết bi đát của dì Vàng, mà vòng tay đã ôm ấp anh từ những ngày trứng nước, có phải đã bị giết ngày 2-11-1957 rồi quẳng xuống sông Bằng Giang?

Phải chăng, như có người biết, anh vẫn gìn giữ một phiên bản lá thư của anh thương binh chồng chưa cưới của cô Vàng gửi ông Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch Quốc hội (đề ngày 29-7-1983) để quyết tìm hiểu cho ra sự thật. Bức thư tuyệt mệnh này đã được gửi ra hải ngoại và một bản sao đã được một người bạn chuyển cho anh. Có lần anh đã mạnh dạn tìm đến nhà tướng Ngô Thế Nùng, em rể ông Hoàng Minh Chính, để cố hỏi dò về cái chết bi thảm của mẹ anh.

Việc thông tin công khai, nói lên đầy đủ sự thật về Nguyễn Tất Trung nay đặt ra là đã chín muồi. Nỗi hận ấp ủ nửa thế kỷ đến hồi phải được giải tỏa. Vì đất nước đang trong quá trình đổi mới không ai cưỡng lại nổi, tính trong sáng, minh bạch đã được cam kết trước toàn dân và thế giới.

Chia sẻ yêu thương

Trước hết những người có lương tâm và tình người trong xã hội ta dễ thông cảm với anh Nguyễn Tất Trung và lòng khao khát của anh tìm hiểu sự thật về mình, vượt lên số phận bất công, phi lý do hoàn cảnh khe khắt tạo nên, và sẵn sàng khuyến khích, tiếp sức cho anh bước vào cuộc đời mới, có căn cước thật, được là chính mình.

Được biết anh Trung thường ngồi suy tư hàng giờ, và từng nói với bạn rằng, anh đã khóc cạn nước mắt về người mẹ quý yêu, rằng cuộc đời anh chìm nổi tưởng là chết nhiều lần rồi, nay thì phải sống để biết những điều cần biết…

Tôi cùng một số bạn mạnh dạn đưa câu chuyện về anh Trung và gia đình, vì thông cảm sâu sắc với hoàn cảnh của anh, trên trách nhiệm con người đối với con người, không ai có quyền dửng dưng với một số phận éo le, cô đơn, có vẻ bế tắc như thế, để tiếp sức nghị lực cho anh đứng dậy là chính mình giữa thanh thiên bạch nhật. Anh rất ham tin tức trên đời, hằng ngày đọc các bản tin trên mạng. Anh thông minh, tư duy đã hồi phục, tự mình biết cách ” ra công khai ” như thế nào và từ đó làm chủ đời mình, không cần ai chỉ vẽ, o ép.

Thật ra tôi đã có lòng cảm mến anh thanh niên Nguyễn Tất Trung từ gần 20 năm nay. Vào năm 1989, tôi hay ghé qua nhà ông Vũ Kỳ, khi ấy đang là Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ông Kỳ và tôi lúc ấy rất không hài lòng khi thấy họ xóa bỏ ba đoạn của di chúc ông Hồ Chí Minh, các đoạn nói về: Mở ngay cuộc kiểm điểm sau toàn thắng để phòng ngừa bệnh kiêu ngạo; giảm một năm thuế nông nghiệp để ”thư dân”; làm ”hỏa thiêu”.

Tôi đặt và đăng bài viết của ông Vũ Kỳ trên báo Nhân Dân Chủ Nhật phơi bày ba điểm ấy, buộc họ phải đưa ra Quốc hội, công bố lại ”toàn bộ di chúc”, đưa công khai bản chụp nguyên si cả tập di chúc, ra nghị quyết giảm thuế nông ngiệp 50% trong 2 năm. Ông Kỳ và tôi bị ban bí thư lên án là vô kỷ luật, bị triệu tập đến ”làm việc với lãnh đạo” ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân, cứ như một phiên tòa.

Sau đó tôi hay ghé chơi nhà ông Kỳ, và gặp cả ba cháu Quang, Vinh và Trung ở đó. Quang và Vinh người mập mạp như ông Kỳ, còn Trung thì gầy, cao, rất xinh trai. Vợ Trung là cô Duyên cũng xinh, trắng, giản dị; hai vợ chồng đã ở riêng, đang cố chữa bệnh để mong có con. Hai vợ chồng vẫn thường về thăm ông Vũ kỳ và gia đình.

Tôi cũng được biết tháng 4-2005, khi ông Vũ Kỳ ốm nặng nằm trong bệnh viện Việt – Xô sát bờ sông Hồng, Trung luôn thay phiên với Quang và Vinh túc trực bên cạnh bố; khi ông Kỳ mất, Trung cũng mặc áo xô, chống gậy, đội mũ rơm trong lễ tang.

Vì bị bệnh, học không đến nơi đến chốn, nên Trung khó kiếm việc làm. Có lúc làm giữ kho, bảo vệ công xưởng. Khi sức khỏe khá, hai vợ chồng mở quán cà-phê, ở sau ga Hàng Cỏ – Hà Nội, rồi dời về cổng trường Đại học Bách khoa. Có lúc gia đình anh ở số nhà 31 phố Lê Thanh Nghị, có lúc ở tại Phòng 102 – Khu tập thể Ủy ban khoa học nhà nước trong ngõ Thịnh Hào. Lâu nay anh được tự do tiếp bè bạn hơn trước, không khí chung của xã hội dễ thở hơn, tính công khai minh bạch và quyền tự do công dân được khẳng định dần.

Trước đây, thế lực an ninh luôn vây bủa, kiềm chế cuộc sống của gia đình Trung, kiểm tra mọi mối quan hệ, vừa đe dọa vừa mua chuộc. Gần đây, kinh tế khá lên, họ cấp cho nhà khá rộng, rồi phong lên là sĩ quan trong danh sách, nhận lương cấp ‘thượng tá’, cốt để vợ chồng tránh những quan hệ xã hội rộng rãi khó kiểm soát.

Nhưng không gì quý hơn tự do, nhân phẩm của một con người. Con người luôn nhận trách nhiệm với chính bản thân mình trước hết. Khi cuộc sống anh Nguyễn Tất Trung khá lên, tiền không thiếu, có xe cộ khá sang thì anh lại càng có vẻ băn khoăn thao thức; thì ra tiền không mua được sự yên tĩnh của tâm hồn, anh có vẻ bứt rứt: Tại sao cuộc đời che giấu, mang mặt nạ mãi của anh lại không đến lúc chấm dứt, để anh được là anh với căn cước chân thực, đàng hoàng, sống tự do, thoải mái, hồn nhiên trong quãng đời còn lại của mình.

Cả đại gia đình người Việt trong và ngoài nước sẽ hết lòng chia sẻ yêu thương với anh và chị Duyên cùng gia đình, và tận lực giúp anh, che chở anh khi cần. Có kẻ sẽ lại vu cáo tôi là nói xấu chế độ, có âm mưu lật đổ và phá hoại. Tôi chỉ có lòng dạ ngay thật, trọn vẹn với nhân dân, kiên định niềm tin vững chãi rằng sự thật, chỉ có sự thật mới cứu vãn được đất nước này khỏi sự dối trá, đạo đức giả và tội ác, xây dựng mối quan hệ người với người là bạn, là anh chị em trên tình nghĩa đồng bào thân thiết.

Không có bí mật quốc gia nào, không có danh dự của một phe đảng nào có thể viện ra để chà đạp nhân thân, thủ tiêu căn cước thật, quyền làm người trọn vẹn của một công dân sinh ra đã bình đẳng tuyệt đối với mọi con người khác dưới ánh mặt trời.

No comments:

Post a Comment