VNTB – Từ những “chòi giữ vịt” đến “hàng không mẫu hạm nổi”, tiến trình bàng trướng của Trung Cộng trên Biển Đông
Trần Trung Đạo
16.03.2026 6:15
VNThoibao
Bộ Ngoại Giao Mỹ trong bản Thông cáo Báo Chí phát ngày 27 tháng 9, 2020 khẳng định: Những lời hứa suông của Trung Cộng tại Biển Đông” (China’s Empty Promises in the South China Sea ).
Nguyên văn đoạn đầu của thông cáo: “Cách đây 5 năm, vào ngày 25 tháng 9 năm 2015, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã đứng tại Vườn Hồng Tòa Bạch Ốc và tuyên bố “Trung Quốc không có ý định theo đuổi quân sự hóa” quần đảo Trường Sa, và các tiền đồn của Trung Quốc sẽ không “nhắm mục tiêu hoặc gây ảnh hưởng đến bất kỳ quốc gia nào”. Thay vào đó, Trung Quốc đã theo đuổi một chiến lược quân sự hóa liều lĩnh và khiêu khích đối với các tiền đồn tranh chấp này, họ đã khai triển tên lửa hành trình chống hạm, mở rộng khả năng radar quân sự và tình báo tín hiệu, xây dựng hàng chục nhà chứa máy bay chiến đấu và các đường băng có khả năng tiếp nhận máy bay chiến đấu.” (China’s Empty Promises in the South China Sea, Press Statement Morgan Ortagus, Department Spokesperson, September 27, 2020)
Nhắc lại, trong buổi họp báo tại Rose Garden nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ ngày 25 tháng 9, 2015, Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình phát biểu “Hoạt động xây dựng liên hệ mà Trung Quốc đang tiến hành ở quần đảo Nam Sa [Trường Sa] không nhắm mục tiêu hay tác động đến bất kỳ quốc gia nào và không có ý định quân sự hóa.”
Trong lúc Tập mặt dày nói dối trước thế giới, các mục tiêu quân sự hóa Biển Đông gần hoàn tất.
Từ 2013, Trung Cộng (TC) lợi dụng chính sách đối ngoại hòa hoãn của TT Barack Obama đã tiến hành xây dựng bảy đảo nhân tạo tại các bãi đá họ chiếm được trên Biển Đông với ý định biến các nơi này thành các căn cứ quân sự.
Các đảo nhân tạo được trang bị với phi cơ chiến đấu, oanh tạc cơ, kho đạn dược, các phương tiện phục vụ chiến tranh và được mệnh danh là những “hàng không mẫu hạm không thể chìm” (unsinkable aircraft carriers).
Lo ngại phản ứng cứng rắn của Mỹ và quốc tế, Tập chỉ thị tiến hành xây dựng một cách gấp rút. Để làm việc này nhanh chóng, TC đã tàn phá các môi trường biển vốn cần được phát triển tự nhiên. Nhà hải dương học John McManus thuộc đại học Miami tố cáo: “một cách căn bản, TC tàn phá mọi thứ sống chung quanh các rạn san hô.” (Christina Larson, China’s island building is destroying reefs, 25-9-2015, Science organization)
Bảy đảo nhân tạo đó gồm Johnson Reef South (Đá Gạc Ma), Subi Reef (Đá Xu Bi), Gaven Reef (Đá Ga Ven), Hughes Reef (Đá Tư Nghĩa), Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập), Cuarteron Reef (Đá Châu Viên) và Mischief Reef (Đá Vành Khăn).
Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với tất cả bãi đá nêu trên thuộc quần đảo Trường Sa. Các quốc gia khác gồm Philippines, Malaysia, Brunei, Taiwan và Trung Cộng cũng tuyên bố chủ quyền.
Trong số bảy đảo nhân tạo, ba đảo quan trọng nhất được xây trên các bãi đá Chữ Thập (Fiery Cross), Xu Bi (Subi) và Đá Vành Khăn (Mischief). Ba đảo nhân tạo này được báo chí quốc tế gọi là “Big Three” (Ba đảo nhân tạo lớn).
Riêng tại Đá Chữ Thập, phi đạo dài mười ngàn bộ có khả năng đáp bất cứ loại chiến đấu cơ và oanh tạc cơ nào của TC. Các căn cứ quân sự của TC trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa còn được trang bị bằng các võ khí tối tân. Các hỏa tiễn địa đối không (SAM) HQ-9 có tầm trung bình 200 km, các giàn Radar và chiến đấu cơ J-11 được phát hiện trên đảo Phú Lâm (Woody) thuộc Hoàng Sa từ năm 2016. Hôm nay, chắc chắn chúng cũng đã được trang bị trên các đảo nhân tạo đã hoàn tất.
Mục Đích Xây Dựng Các Đảo Nhân Tạo
Tập Cận Bình xây đảo nhân tạo nhắm vào hai mục đích: (1) về chính trị, xây dựng một “tình trạng đang hiện hữu” (status quo) và (2) về quân sự nhằm dựng hai phòng tuyến mặt đông nam Trung Quốc.
Như người viết đã giải thích trong các bài trước “Status quo” được định nghĩa như là tình trạng của các điều kiện thực tế trước khi có sự thay đổi. Trong các cuộc thảo luận hay tranh luận các bên thường có khuynh hướng chấp nhận một tình trạng và đôi khi còn được xem đó như là một giới hạn mà nếu bị vượt qua sẽ tạo nên nhiều bất trắc. Khi xây dựng các đảo nhân tạo, họ Tập nghĩ trong trường hợp tệ hại phải ngồi vào bàn thương thuyết, y sẽ dùng các đảo nhân tạo như điểm giới hạn.
Về chính trị, việc xây đảo nhân tạo là một hình thức cắm cọc trên Biển Đông.
Tập Cận Bình nghĩ rằng, trong trường hợp tệ hại các tranh chấp quốc tế phải dẫn tới các hội nghị, các cọc trên Biển Đông sẽ được dùng để xác định chủ quyền của Trung Cộng. Bản chất tham lam và nhỏ nhen của Trung Cộng không thay đổi dù chỉ vài mét như trong giai đoạn xây dựng đường xe lửa phía bắc Việt Nam trước đây hay vài ngàn dặm như trên Biển Đông ngày nay. Tập muốn đặt thế giới trước chuyện đã rồi.
Cách suy nghĩ của Tập rất lạc hậu nhưng gian xảo. Trước Thế Chiến Thứ Nhất, ngoại trừ Geneva Convention I ký kết năm 1863, các hiệp ước được ký kết giữa hai quốc gia hay hai nhóm quốc gia nhằm tạo các liên minh quân sự. Nhưng các cuộc cách mạng kỹ thuật, công nghệ và kinh tế đã làm điều kiện thế giới hoàn toàn thay đổi. Hầu hết các công ước quốc tế về xử dụng nguyên tử, kinh tế, mậu dịch, môi trường quan trọng đều diễn ra sau Thế Chiến Thứ Hai với nội dung và tác dụng hoàn toàn khác.
Về quân sự, Tập Cận Bình khi dựng các căn cứ quân sự nhằm tạo hai phòng tuyến bảo vệ sườn đông nam của Trung Quốc.
Một câu hỏi thường được đặt ra phải chăng các cơ sở quân sự của TC trên Biển Đông thật sự đe dọa về an ninh quốc phòng đối với Mỹ?
Câu trả lời chung của các chuyên viên quân sự là không và đa số nhận xét những đảo đó sẽ bị vô hiệu hóa nhanh chóng.
Vô hiệu hóa bằng cách nào?
Bằng hai cách, (1) đánh chìm xuống Thái Bình Dương hay (2) bỏ qua với chiến lược “Ếch nhảy” (Leapfrogging) như Mỹ đã áp dụng trong mặt trận Thái Bình Dương của Thế Chiến Thứ Hai.
Rand Corporation, một công ty nghiên cứu các chiến lược chính trị và quân sự có tầm vóc thế giới trong tài liệu công phu dày 430 trang về tương quan quân sự Mỹ-TC (The U.S.-China military scorecard: forces, geography, and the evolving balance of power, 1996-2017) cho rằng “những căn cứ quân sự có trang bị một số SAM và phi cơ chiến đấu không chắc chắn đóng vai trò gì đáng kể trong một đụng chạm quân sự với cường độ cao chống lại Mỹ lâu hơn một giờ.”
Theo Rand, lịch sử chiến tranh cho thấy SAM chỉ hữu hiệu khi được che giấu, nhưng trong điều kiện của một đảo nhân tạo giữa Thái Bình Dương, SAM không có nơi nào để giấu.
Các căn cứ quân sự dưới đạng đảo nhân tạo là những căn cứ cố định và cho dù phòng thủ dày đến mức nào cũng sẽ là mục tiêu dễ dàng của hải và không lực Mỹ.
Những điểm bất lợi đó quá hiển nhiên không đợi phải là chuyên gia quân sự mới nhận ra và dĩ nhiên TC cũng biết. Nhưng tại sao họ vẫn xây dựng?
TC tin rằng những phi cơ chiến đấu và hỏa tiễn tầm 200 km đủ để phô trương và đe dọa các nước nhỏ đang tranh chấp với TC và “Big Three” (Chữ Thập, Xu Bi và Vành Khăn) sẽ được hiện đại hóa với những vũ khí có khả năng di động cao để không chỉ tự phòng thủ mà còn phản công.
Ngoài ra, các đảo nhân tạo cũng có thể sẽ bị bỏ qua nếu Mỹ áp dụng chiến lược “Ếch nhảy” (Leapfrogging) như đã dùng trong mặt trận Thái Bình Dương trong Thế Chiến Thứ Hai.
Chiến lược “Ếch nhảy” (Leapfrogging ) là gì?
“Ếch nhảy” hay gọi đủ câu là “Ếch nhảy tới Tokyo” là một chiến lược quân sự độc đáo của Mỹ được áp dụng trong cuộc chiến Thái Bình Dương giữa Mỹ và Nhật. Nhật Bản ngoài 5 đảo chính Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu, và Okinawa, còn có 430 đảo dân cư ngụ trong tổng cộng 6,852 đảo tạo thành quốc gia quần đảo Nhật. Đảo lớn nhất là Honshu và được xem như đảo chính nơi có thủ đô Tokyo.
Ngày 30 tháng 3, 1942, Đô Đốc Chester Nimitz được đề bạt vào chức vụ Tư lịnh Tối Cao Quân Đội Đồng Minh Khu Vực Thái Bình Dương (Supreme Allied Commander Pacific Ocean Areas) với nhiệm vụ tấn công về hướng bắc để chiếm các nhóm đảo Gilbert, Marshall, Marianas theo hướng nhóm đảo Bonin. Một khu vực khác phía Tây Nam Thái Bình Dương đặt dưới quyền Thống Tướng Douglas MacArthur tấn công Solomons, New Guinea, Bismarck Archipelago tiến về hướng Philippines.
Một khó khăn của Mỹ là nếu tấn công tất cả các đảo dọc đường tiến quân sẽ phải tốn rất nhiều quân và vũ khí. Những trận đánh trước đó cho thấy quân đội Nhật chiến đấu đến người lính cuối cùng. Dù thua quân đội Nhật cũng gây tổn thất lớn cho phía đồng minh.
Chiến lược “Ếch nhảy” được ra đời.
“Ếch Nhảy” là chiến lược dùng không quân và hải lực với nhiều nhất là tàu ngầm nhằm ngăn chận mọi phương tiện tiếp tế, tăng cường cho đảo và không cho quân Nhật đóng trên đảo rút lui. Nói tóm lại quân đội Nhật đóng trên các đảo bị vô hiệu hóa bằng cô lập.
Chiến lược “Ếch Nhảy” cho phép quân đội Mỹ tiến nhanh vào nội địa Nhật thay vì phải tấn công từng đảo một. Các tư lịnh tối cao của Mỹ chọn những đảo cần thiết để tấn công. Những đảo bị tấn công phải đáp ứng những điều kiện cần thiết để từ đó làm bàn đạp tấn công các đảo khác và mục tiêu cuối cùng là tấn công Tokyo.
Trong lúc đó các tư lịnh Nhật không tiên đoán được đảo nào sẽ bị tấn công và đảo nào bị bỏ qua nên phải tập trung phòng thủ tất cả các đảo trên đường tiến quân của Mỹ. Chẳng hạn, Nhật tập trung một lực lượng lớn để phòng thủ Rabaul thì Mỹ lại bỏ qua và tấn công các đảo phòng thủ nhẹ hơn bên cạnh. Điều này đòi hỏi Nhật phải bố trí một hàng rào phòng thủ tốn kém hơn nhưng lại mỏng.
Áp dụng chiến lược “Ếch Nhảy” này vào cuộc chiến Thái Bình Dương nếu xảy ra trong tương lai, các tự lịnh Mỹ có thể chọn tấn công nhiều đảo, một vài đảo hay thậm chí không tấn công đảo nào mà chỉ cô lập hóa chúng.
Tập Giống Hitler Không Sợ Chiến Tranh Bằng Miệng
Cuộc hành quân tái chiếm vùng Rhineland là một bài học lịch sử cần học vì nước cờ Tập đang đi gần như lập lại nước cờ của Hitler trước Thế Chiến Thứ Hai.
Sáng ngày 7 tháng 3, 1936, Hitler đưa một đạo quân nhỏ khoảng ba ngàn và vài chiếc phi cơ chiến đấu tiến chiếm vùng Rhineland lúc đó đang được đặt dưới sự bảo hộ của phe đồng minh, trực tiếp là Anh và Pháp. Với hành động này Hitler vi phạm cả hai hiệp ước Versailles và Locarno. Quân Đức bị máy bay thám thính của Pháp phát hiện và vài tiểu đoàn Đức đối diện với một lực lượng Pháp đông gấp nhiều lần đóng bên kia biên giới Đức Pháp. Thay vì tấn công quân Đức bằng bộ binh hay không lực, Pháp đã chọn không làm gì ngoài những lời tố cáo trễ tràng sau đó.
Tập làm giống hệt như Hitler bằng cách chiếm một đảo, vài đảo để đo lường phản ứng trước khi tiến tới quân sự hóa và độc chiếm Biển Đông.
Hitler dù sao cũng có lý do vì Rhineland vốn là đất của Đức. Biển Đông chưa bao giờ là của TC.
Tập sẽ không hủy bỏ các công trình y đã xây dựng và sẽ không từ bỏ tham vọng bành trướng vì đó là thuộc tính tất yếu của mọi đế quốc độc tài dù độc tài Hitler hay độc tài Tập.
Tuy nhiên, giống như mọi đế quốc độc tài khác, TC sẽ tan vỡ do các mâu thuẫn từ bên trong cơ chế. Các mâu thuẫn nội tại có tính triệt tiêu nhau đó sẽ sâu sắc hơn nếu có tác động mạnh từ bên ngoài.
Sự hình thành của giai cấp tư bản đỏ giúp kéo dài mạng sống của chế độ nhưng không có nghĩa giúp hóa giải được các mâu thuẫn đối kháng bên trong. Sự sụp đổ của LX cho thấy tác động ngoại lực như chạy đua vũ trang, tạo khủng hoảng năng lượng, bao vây kinh tế, làm sa lầy trong chiến tranh Afghanistan trong thập niên 1980 v.v.. rất quan trọng. Những tác động đó gia tăng cường độ của các xung đột thuộc phạm vi bản chất của chế độ CSLX.
Phong trào giành độc lập của các dân tộc thuộc đế quốc Ottoman trước và sau Thế Chiến Thứ Nhất dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của đế quốc này và ra đời của nhiều quốc gia mới. Tương tự xung đột với Mỹ, Nhật, Ấn Độ và liên minh các quốc gia chống TC trong vùng Nam và Đông Thái Bình Dương sẽ làm chế độ CS tại Trung Quốc tan vỡ nhanh hơn.
TC tan vỡ càng sớm bao nhiêu các nước nhỏ trong vùng càng có lợi bấy nhiêu.
Thế giới không còn là tập hợp của các quốc gia riêng lẻ như trong giai đoạn tiền cách mạng kỹ nghệ đầu thế kỷ 18 mà là một cộng đồng của những quốc gia có tác động và ảnh hưởng nhau trong mọi lãnh vực. Trong mọi xung đột ngày nay, không một nước nào dù nhỏ hay lớn là được miễn trừ hậu quả hay hoàn toàn có lợi. Mọi tranh chấp cũng không đơn thuần là đối đầu nhau về quân sự mà mọi lãnh vực đều có thể có chiến tranh.
Xây dựng nền dân chủ, phục hưng nội lực dân tộc và vận dụng mọi biến cố thế giới có lợi cho đất nước là những trách nhiệm hàng đầu của mọi lãnh đạo quốc gia.
(Bài này còn có tựa Đảo Nhân Tạo Của Trung Cộng Trong Cuộc Chiến Thái Bình Dương)
No comments:
Post a Comment