Saturday, May 2, 2026

Luật sư phải tố giác thân chủ: rủi ro đạo đức, pháp lý và trở thành 'tay trong' của công an
02/05/2026(9 giờ trước)
BBC

Getty Images/BBC

"Suốt 10 năm và có lẽ hàng ngàn cuộc tiếp xúc, tôi đã thành công vô số lần trong việc khuyên nhủ con người kiềm chế ý định phạm tội… Tôi thường chỉ có thể nhận biết qua việc đoán xét tâm lý bất ổn của một người và họ hỏi luật sư về một số biện pháp họ đang nghĩ trong đầu có quá cực đoan hay không."

Đây là chia sẻ từ Hà Nội của luật sư Trần Đinh Minh Long với BBC News Tiếng Việt vào ngày 29/4.

Khi một người bị chính quyền buộc tội, người bào chữa là chỗ dựa pháp lý của họ trước hệ thống pháp lý với những quy định phức tạp. Điều tưởng chừng là đương nhiên này có thể sẽ sớm không còn đúng ở Việt Nam.

Một luật sư khác ở Việt Nam cho biết trong thực tế hành nghề, không hiếm những trường hợp thân chủ bộc lộ những lời nói mang tính tiêu cực, thậm chí cực đoan, trong lúc bức xúc.

"Tuy nhiên, những lời nói đó phần lớn là sự giải tỏa cảm xúc, không phải là ý định phạm tội thực sự.

"Trong những tình huống như vậy, cách xử lý phù hợp của luật sư là tư vấn, giải thích hậu quả pháp lý, hạ nhiệt tâm lý và định hướng hành vi đúng pháp luật cho thân chủ. Chỉ trong những trường hợp có dấu hiệu rõ ràng, cụ thể và đáng tin cậy về nguy cơ gây thiệt hại thực tế, luật sư mới cần cân nhắc các biện pháp phù hợp như từ chối tiếp tục cung cấp dịch vụ," người này nói BBC News Tiếng Việt vào ngày 30/4 với điều kiện ẩn danh.

"Nếu nhìn lại, tôi cho rằng đây là cách xử lý hợp lý, vì vừa giữ được chuẩn mực nghề nghiệp, lại không đẩy luật sư vào vai trò không thuộc về mình."

Theo luật hiện hành, luật sư sẽ không có trách nhiệm tố giác những tội mà thân chủ "đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được", trừ những tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ Luật Hình sự.

Đọc nhiều nhất





Tuy nhiên, theo đề xuất sửa đổi Bộ luật Hình sự của Bộ Công an, luật sư sẽ phải tố giác tất cả các tội được nêu trong Điều 389 – tổng cộng khoảng hơn 90 tội.

Nhiều luật sư đã lên tiếng phản đối đề xuất này, đưa ra nhiều lý do khác nhau, nhưng nổi bật nhất là khả năng xói mòn đặc quyền của luật sư trong mối quan hệ với thân chủ và đi ngược với lòng tin của thân chủ – điều được đánh giá là nền móng để luật sư làm tốt công việc bảo vệ thân chủ.

Đặc quyền này tồn tại là để thân chủ có thể thoải mái chia sẻ thông tin với luật sư của mình mà không sợ rằng luật sư có thể dùng nó để gây bất lợi cho mình. Đây là một đặc quyền để bảo vệ thân chủ.

"Nếu đặt ra nghĩa vụ buộc luật sư phải tố giác thân chủ trong những tình huống thông tin chưa được kiểm chứng, đặc biệt là những lời nói mang tính cảm xúc hay bộc phát, thì hệ quả đầu tiên không phải là tăng hiệu quả phòng chống tội phạm, mà là làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin giữa luật sư và thân chủ," luật sư ẩn danh đánh giá.

Getty Images
Ở Việt Nam, theo đề xuất của Bộ Công an, số lượng tội danh mà luật sư ở Việt Nam phải tố giác lên tới con số hơn 90, từ các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tới giết người, tổ chức đua xe trái phép

Để so sánh, luật sư ở Mỹ có thể tố giác thân chủ của mình trong một số trường hợp.

Cần lưu ý rằng ở đây là luật sư có quyền tiết lộ thông tin chứ không phải có nghĩa vụ. Họ cũng không phải đối mặt với rủi ro pháp lý như viễn cảnh ở Việt Nam. Ngoài ra, quyền tiết lộ thông tin này chỉ áp dụng cho những trường hợp như gây chết người hoặc có hâu quả "nghiêm trọng" về người hoặc tài sản.

Theo Giáo sư Abbe Smith từ Trường Luật Đại học Georgetown (Mỹ), đây là những ngoại lệ hẹp vì nghĩa vụ bảo mật thông tin cho thân chủ là một bổn phận nghiêm ngặt.

"Nếu tạo ra một danh sách dài các ngoại lệ rồi buộc luật sư phải tiết lộ thông tin, thì luật sư sẽ không còn là người đại diện hay người được ủy thác trung thành của thân chủ nữa. Thay vào đó, họ sẽ trở thành mật thám của chính quyền," bà đánh giá với BBC News Tiếng Việt vào ngày 27/4, nói thêm rằng với quy định như vậy thì vai trò của luật sư, đặc biệt là luật sư hình sự, không còn đủ độc lập

Giáo sư Stephen Gillers từ Trường Luật Đại học New York (Mỹ) cho biết thêm: "Khoảng 40 năm trước, có một sự đồng thuận rộng rãi rằng đó là một quy tắc chưa phù hợp. Một số tội phạm có thể rất nhỏ. Cùng lúc, thân chủ có thể đang lừa gạt người khác, và hành vi đó dù không phải là tội phạm, nhưng vẫn là gian lận.[…]

"Chúng tôi đã bỏ đi việc cho phép luật sư quyền tiết lộ bất kỳ tội phạm nào có thể xảy ra trong tương lai, dù nhỏ đến đâu. Đồng thời, chúng tôi cho phép luật sư được tiết lộ những hành vi phạm tội hoặc gian lận có thể gây ra thiệt hại đáng kể," ông nói với BBC News Tiếng Việt vào ngày 25/4.



Theo Giáo sư Stephen Gillers, trước thập niên 1980, các quy tắc của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (ABA) và quy định tại hầu hết các bang cho phép, nhưng không bắt buộc, luật sư được tiết lộ ý định của thân chủ nếu họ định thực hiện một hành vi phạm tội.

"Tuy nhiên, khoảng 40 năm trước, đã có sự đồng thuận chung rằng đây là một quy tắc sai. Lý do là vì có những tội phạm rất nhỏ, không đáng kể. Thêm vào đó, quy tắc khi đó không đề cập đến những tổn hại khác mà thân chủ có thể gây ra thông qua các hành vi không cấu thành tội phạm, nhưng lại mang tính gian lận," ông giải thích.

Vì vậy, ABA và hầu hết các bang đã thay đổi quy tắc theo hai hướng.

Thứ nhất, họ bãi bỏ quy tắc cho phép luật sư tiết lộ ý định phạm tội của thân chủ. Quy tắc này đã bị hủy bỏ từ đầu những năm 1980 và cho đến nay vẫn không còn hiệu lực.

Thứ hai, họ xác định những lĩnh vực mà Hiệp hội Luật sư cho là quan trọng nhất, trong đó luật sư được phép, nhưng không bắt buộc, tiết lộ thông tin mật của thân chủ, Giáo sư Gillers chia sẻ với BBC News Tiếng Việt vào ngày 25/4.

Xói mòn niềm tin

Getty Images

Bộ Công an Việt Nam lập luận rằng những hành vi thân chủ chuẩn bị thực hiện hoặc đang thực hiện (phạm một tội mới hoặc tiếp diễn hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó) không thuộc phạm vi nhiệm vụ của người bào chữa, nên nếu luật sư không tố giác trong trường hợp này thì sẽ vi phạm nguyên tắc "mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời".

Theo logic này, nếu không tố giác, luật sư có rủi ro phạm tội "không tố giác tội phạm" với hình phạt gồm cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Nếu người không tố giác đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Nhận định về viễn cảnh khi đề xuất này được áp dụng, luật sư Minh Long cho rằng các luật sư phần lớn sẽ chuyển sang tư vấn, còn những luật sư chuyên bào chữa hình sự sẽ mất uy tín và nguồn thu.

"Các vụ án hình sự sẽ bị ô nhiễm bởi các hành vi chạy chọt, mua bán án vì vai trò của luật sư suy giảm, không đáng kể và nay còn không đáng tin. Hình ảnh pháp quyền của Việt Nam sẽ bị xói mòn nghiêm trọng trong cả mắt dư luận quốc nội lẫn quốc tế.

"Sự công bằng của pháp luật bị đặt dấu hỏi sẽ kéo theo suy giảm niềm tin và gắn kết xã hội, hậu quả là sự đi xuống trong chất lượng sống của cả quốc gia. Nạn nhân lớn nhất không phải là giới luật sư, mà tương lai của cả quốc gia," ông Long đánh giá với BBC News Tiếng Việt vào ngày 29/4.

Luật sư ẩn danh nói trên khẳng định rằng khi niềm tin bị xói mòn, thân chủ sẽ không còn nói thật, luật sư không còn nắm được bản chất vụ việc và hoạt động tư vấn pháp lý sẽ trở nên hình thức, thậm chí sai lệch.

"Trong khi đó, luật sư lại không có công cụ để xác định đâu là ý định phạm tội thực sự. Một câu nói như tôi muốn giết nó, tôi sẽ đốt cả nhà nó có thể chỉ là bộc phát cảm xúc, nhưng cũng có thể hiểu là dấu hiệu phạm tội," người này nêu.

Để tham chiếu, Điều 1.6 Bộ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của ABA cho phép luật sư tiết lộ thông tin khi "tin tưởng một cách hợp lý" đó là việc cần làm để ngăn chặn nguy cơ chết người, tổn hại nghiêm trọng về thân thể, thiệt hại đáng kể đến lợi ích tài chính hoặc tài sản của người khác.

"Không thể có một công thức cứng nhắc cho mọi trường hợp. Chúng ta phải dựa vào phán đoán nghề nghiệp của giới luật sư," Giáo sư Stephen Gillers nói.

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng đôi lúc mọi chuyện tương đối rõ ràng và lấy ví dụ về một vụ ly hôn.

"Người chồng đã có lời lẽ đe dọa thẩm phán với luật sư của mình và luật sư đã cảnh báo thẩm phán. Luật sư đã kết luận rằng lời đe dọa đó đủ nghiêm trọng và thân chủ thực sự có ý định làm hại thẩm phán, nên luật sư đã cảnh báo thẩm phán. Luật sư không bắt buộc, nhưng được phép, làm vậy," ông nói.

Getty Images
Một phiên toà ở Việt Nam

Ở Việt Nam, theo đề xuất của Bộ Công an, số lượng tội danh mà luật sư ở Việt Nam phải tố giác lên tới con số hơn 90, từ các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tới giết người, tổ chức đua xe trái phép.

Trả lời BBC News Tiếng Việt vào ngày 27/4, luật sư Duncan Levin, Giảng viên khoa luật tại Trường Luật Harvard, nói rằng luật sư không phải là thám tử, sĩ quan tình báo hay điều tra viên của cảnh sát

"Họ được đào tạo để tư vấn và bảo vệ quyền lợi pháp lý cho thân chủ, chứ không phải để điều tra họ," ông nói, cảnh báo thêm rằng cần hết sức thận trọng trước khi buộc luật sư trở thành người cung cấp thông tin chống lại những người mà họ đại diện.

Về đề xuất ở Việt Nam, ông cho rằng một quy định bắt buộc tố giác với phạm vi quá rộng sẽ phá hỏng sự thẳng thắn – điều mà ông cho rằng là nền tảng của hoạt động đại diện pháp lý hợp pháp.

"Thân chủ sẽ che giấu sự thật với luật sư của mình. Khả năng tư vấn nhằm ngăn thân chủ thực hiện hành vi trái pháp luật của luật sư sẽ suy giảm. Chính quyền có thể nhận được nhiều tin báo hơn, nhưng hệ thống pháp lý sẽ thu về được ít sự thật hơn," ông Levin nói.

Trong khi đó, theo Giáo sư Stephen Gillers, một số bang ở Mỹ vẫn đi chệch khỏi quy tắc này và yêu cầu luật sư phải tiết lộ một số loại thông tin nhất định. Dù vậy, ông lưu ý rằng trường hợp này không nhiều, lý do là tác động của yêu cầu đó tới quan hệ luật sư-thân chủ.

"Khi đó, để tránh tự đặt mình vào nguy cơ bị cho là vi phạm quy định bắt buộc này, các luật sư sẽ có xu hướng nghiêng về phía tiết lộ thông tin nhiều hơn," ông nói, giải thích rằng khi ấy khả năng đại diện của luật sư suy yếu vì đã trở thành người có thể gây bất lợi cho thân chủ.

Bà Smith nói rằng thân chủ là người biết nhiều hơn bất kỳ ai khác về vụ việc, "nhưng họ sẽ không bao giờ tiết lộ những gì mình biết cho luật sư nếu luật sư có thể mật báo với cơ quan chức năng".

Rủi ro khi áp dụn

Trong trường hợp thân chủ có tiết lộ thông tin hoặc kế hoạch của mình, việc xác định xem rằng liệu thân chủ có thực sự có ý định thực hiện việc đó hay không không đơn giản.

Về mặt lý thuyết, luật sư Long cho rằng luật sư có thể báo tin nếu có căn cứ xác đáng như việc thân chủ tích cực chuẩn bị tài nguyên, hung khí, lên kế hoạch và lập rõ phương án.

"Trên thực tế, gần như không có chuyện thân chủ khai toàn bộ những gì mình đang làm cho luật sư. Lịch sử [Việt Nam] có duy nhất một lần xảy ra trường hợp tương tự là vụ đầu độc Hà thành nổi tiếng vào năm 1908, người tố cáo khi đó là một tu sĩ [cố đạo Dronet Ân]. Sở dĩ có thể tin vì tính chất tôn giáo và tính cấp thiết của hành vi [người xưng tội sẽ làm ngay tối hôm đó]," ông nói. (Lưu ý: Người cấp báo ở đây là tu sĩ, không phải luật sư.)

Theo ông Long, không có ràng buộc cụ thể nào về mặt đạo đức hay chuẩn mực nghề nghiệp khi tố giác thân chủ, nhưng vấn đề nằm ở chỗ không có cách nào để đoán chắc chắn trước tương lai một người có ý định thực sự thực hiện hành vi phạm tội hay không.

Luật sư Hoàng Hà từ TP HCM cho rằng luật sư không thể biết được rằng thân chủ của mình đang chuẩn bị phạm tội nếu chỉ nghe từ thân chủ.

"Lời kể ấy có thể sai từ đầu. Khách hàng tự nhận tội vì hoảng loạn, vì hiểu sai pháp luật, vì chịu áp lực, vì muốn gánh thay người thân, vì tưởng hành vi của mình cấu thành tội phạm trong khi thực tế là vi phạm hành chính hoặc không cấu thành tội gì.

"Lời khai chính thức trước cơ quan điều tra còn không đủ sức buộc tội thì lời kể cho luật sư lại càng không," ông nêu trên trang Facebook cá nhân vào ngày 21/4.

Tương tự, vị luật sư ẩn danh nói trên cũng đề cập tới việc luật sư không có chức năng điều tra, không có thẩm quyền xác minh, cũng không có điều kiện theo dõi diễn biến tâm lý của thân chủ.

"Muốn kết luận một hành vi phạm tội phải trải qua một quy trình tố tụng chặt chẽ với nhiều cơ quan tham gia. Việc đòi hỏi luật sư phải nhận biết hoặc phán đoán ý định phạm tội của khách hàng là tạo ra áp lực rất lớn và không thực tế.

"Nếu coi luật sư như một kênh phát hiện tội phạm thì không những không hiệu quả mà còn làm méo mó vai trò luật sư trong hệ thống tư pháp," luật sư này nói.

Play video, "Vai trò của luật sư và niềm tin xã hội", Thời lượng 5,58
05:58
BBC: Play video    Vai trò của luật sư và niềm tin xã hội

Những yếu tố này, kết hợp với đánh giá nói trên của ông Gillers về rủi ro luật sư hình thành tâm lý "cứ tố giác cho chắc", câu hỏi đặt ra là luật sư sẽ tố giác thân chủ với tần suất ra sao và chất lượng của lời tố giác sẽ như thế nào?

Khi ấy, chỗ đứng của luật sư trong hệ thống tư pháp Việt Nam sẽ là gì, liệu có còn là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thân chủ?

Đó là chưa kể tới trường hợp chính thân chủ không biết việc mình đang chuẩn bị thực hiện là phạm pháp.

Đối với những tội danh kiểu như giết người, mua bán ma túy, không khó để thân chủ xác định đó là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, đối với những tội danh "lạ" hoặc "nhiều sắc thái" hơn, ví dụ như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội đầu cơ,... thì sẽ phức tạp hơn cho cả thân chủ và luật sư trong việc xác định hành vi cụ thể đó có vi phạm pháp luật hay không.

Trong trường hợp này, khi chia sẻ kế hoạch của mình với luật sư, thân chủ sẽ đặt cả hai vào tình huống bất lợi. Thân chủ có khả năng bị tố giác, luật sư có khả năng vi phạm pháp luật nếu không làm vậy.

Ở chiều ngược lại, nếu thân chủ cũng hành xử theo hướng "giấu nhẹm đi cho chắc" với luật sư, cả hai tiếp tục rơi vào thế bất lợi.

Khi đó, không những luật sư không có đủ thông tin để bảo vệ thân chủ, mà cũng không biết được dự tính của thân chủ là gì để đưa ra lời tư vấn hợp lý, đặc biệt là trong trường hợp thân chủ đang thực hiện hoặc chuẩn bị thực hiện là hành vi vi phạm pháp luật.

Cùng lúc, dù có thể không bị luật sư tố giác, thân chủ sẽ lại không nhận được sự tư vấn tốt nhất vì luật sư không có đủ thông tin.

Ông Levin, hiện đang là đối tác điều hành của Levin & Associates, một hãng luật bào chữa hình sự và thực thi quy định của chính quyền có trụ sở tại New York, khẳng định rằng đặc quyền luật sư-thân chủ cũng như nghĩa vụ giữ bí mật của luật sư không phải là những truyền thống mang tính cảm tính mà là những đặc điểm mang tính cấu trúc của nhà nước pháp quyền.

"Một thân chủ không thể trao đổi thẳng thắn với luật sư thì không thể nhận được sự tư vấn pháp lý có ý nghĩa. Một luật sư không nắm rõ sự thật thì không thể hướng dẫn thân chủ hành xử hợp pháp.

"Và một hệ thống mà luật sư bị đặt trong tình trạng thiếu hiểu biết vì nỗi sợ phải tiết lộ thông tin sẽ không trở nên đạo đức hơn; trái lại, khả năng mang tới những kết quả hợp pháp sẽ suy giảm," ông nói.

Yếu tố "đang chuẩn bị phạm tội" trong đề xuất của Bộ Công an, theo vị luật sư ẩn danh, "cũng là điểm khó và bất hợp lý nếu áp dụng trên thực tế".

"Chuẩn bị phạm tội là một khái niệm pháp lý cần được đánh giá dựa trên hành vi cụ thể, chứng cứ cụ thể và thường phải qua quá trình điều tra, xác minh," trong khi luật sư không có thẩm quyền và công cụ để điều tra.

Trách nhiệm xã hội và vai trò của luật sư

Một trong số những lập luận nổi bật ủng hộ đề xuất của Bộ Công an là tác động tích cực của việc tố giác đối với xã hội, cụ thể là việc phòng ngừa tội phạm. Ngược lại, một số luật sư lo ngại rằng việc tố giác thân chủ sẽ ảnh hưởng tới uy tín và thanh danh của mình.

Ông Gillers cho rằng tác động chỉ có thể được đánh giá tùy vào từng trường hợp cụ thể.

"Ví dụ, có một vụ việc liên quan đến một người đàn ông là quản lý của một căn chung cư. Sau khi bị sa thải, ông ta tìm đến gặp luật sư để trao đổi về quyền lợi của mình và nói với luật sư rằng 'Tôi sẽ đốt tòa nhà này'. Luật sư sau đó đến xem căn hộ của người này trong tòa nhà và phát hiện ông ta thực sự có đủ các vật liệu cần thiết để thực hiện hành vi phóng hỏa.

"Vì thế, luật sư kết luận rằng người đàn ông này thực sự có ý định đốt tòa nhà. Luật sư đã cảnh báo giới chức và người đàn ông sau đó bị bắt," ông lấy ví dụ, nói rằng trong trường hợp này thì luật sư sẽ được hội ca ngợi thay vì chỉ trích.

Bên cạnh đó, quan điểm xã hội cũng có thể ảnh hưởng tới cách nhìn nhận đề xuất của Bộ Công an.

Theo bà Smith, quan điểm "thà để mười người có tội được tự do còn hơn để một người vô tội bị kết án oan" (chủ trương 'thà bỏ sót còn hơn giết lầm') – thường được cho là phương châm của Lord Blackstone, một luật gia nổi tiếng người Anh ở thế kỷ 18 – vẫn có sức nặng trong cách mà các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và Hiến pháp ở Mỹ được thiết kế đối với các vụ án hình sự.

Dù vậy, bà cũng chia sẻ việc từng dành thời gian ở Phnom Penh, Campuchia, để đào tạo các luật sư cho các phiên tòa xét xử tội ác của Khmer Đỏ.

"Họ [luật sư ở Phnom Penh] nói rằng ở đây, chúng tôi coi trọng cộng đồng hơn cá nhân. Và họ nói rằng nếu để mười người có tội ở ngoài xã hội thì tệ hơn là việc có một người phải chịu án oan [tức là chủ trương 'thà giết lầm còn hơn bỏ sót'].

"Hệ thống pháp luật thiên về bảo vệ quyền tự do và phẩm giá cá nhân, và hệ thống thiên về bảo vệ xã hội khỏi những người phạm tội, lựa chọn nào tốt hơn? Tôi tin vào hệ thống của Mỹ và Anh trong việc bảo vệ cá nhân. Tôi nghĩ cuối cùng vấn đề là bạn coi điều gì quan trọng hơn," bà nói.

Getty Images
Quốc hội Việt Nam khóa 16

Cần hiểu rằng pháp luật ở Mỹ và Việt Nam, cả quy định lẫn thực hành, là rất khác nhau.

Luật pháp Việt Nam thường bị đánh giá là thiếu rõ ràng, dễ dàng diễn giải theo nhiều cách khác nhau, theo hướng tiện lợi cho cơ quan công quyền. Vị thế của luật sư trước hành pháp và tư pháp ở Việt Nam cũng không giống ở Mỹ. Do đó, rủi ro của việc luật sư phạm tội không tố giác cũng cao hơn.

Thứ hai là thực tế lập pháp. Đề xuất luật ở Việt Nam thường là các bộ – tức cơ quan hành pháp – chứ hiếm có trường hợp đại biểu Quốc hội đề xuất luật. Từ góc độ của mình, khi xây dựng dự thảo luật, các bộ thường có xu hướng đề xuất các nội dung có lợi cho công tác thi hành, công tác quản lý nhà nước. Và trong bối cảnh Quốc hội luôn phải chạy đua để bấm nút thông qua, với nhiều luật được ban hành theo quy trình rút gọn, mà không có một quy trình thẩm tra, phản biện thấu đáo, khả năng các điều luật dễ cho cơ quan nhà nước, khó cho người dân, cho xã hội được thông qua là rất cao.

Ông Phạm Ngọc Hưng, một người quan sát trên mạng xã hội, cho rằng đề xuất lần này là "sản phẩm điển hình của quy trình làm luật mà bên thừa hành lại đứng ra soạn thảo".

"Logic của của quy trình đó là giữ phần thuận lợi cho mình, đẩy phần khó khăn cho xã hội. Xét theo logic đó, luật hình sự do Bộ Công an soạn, thì bộ này đề xuất mở rộng nghĩa vụ tố giác để thuận lợi cho điều tra tội phạm là điều dễ hiểu.

"Còn việc đó biến luật sư thành tay trong của cơ quan điều tra hay khiến dân né tránh luật sư là việc của xã hội, không phải là trách nhiệm ưu tiên của Bộ Công an," ông viết trên trang Facebook cá nhân vào ngày 21/4.

Vị luật sư ẩn danh cũng nhắc tới rủi ro luật sư trở thành cánh tay nối dài của Bộ Công an khi nghĩa vụ tố giác có thể được mở rộng đến hàng loạt tội danh.

"Họ buộc phải chuyển từ vị trí bảo vệ thân chủ sang tâm thế của người đi 'zic' [chỉ điểm] khách hàng, đặt mình vào vị trí nghi ngờ, đánh giá và thậm chí là tố giác thân chủ. Điều này làm biến dạng bản chất nghề luật sư, khiến hoạt động bào chữa không còn đúng nghĩa, về lâu dài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được bào chữa của người dân, biến luật sư trở thành cánh tay nối dài của ngành công an," người này nói.

Từ Mỹ, ông Levin cũng có cái nhìn tương tự về viễn cảnh này, nhắc lại rằng "nghĩa vụ tố giác càng được mở rộng thì lại càng làm mất đi bản chất của một ngoại lệ đạo đức và càng trở thành công cụ để biến luật sư thành những cánh tay nối dài của chính quyền".

Những luật sư mà BBC phỏng vấn đều có cùng quan điểm rằng một nhiệm vụ cốt lõi của luật sư là bảo vệ quyền lợi và mục tiêu hợp pháp của thân chủ.

"Đôi khi mục tiêu của thân chủ là được tuyên vô tội hoặc không bị trừng phạt, đôi khi mục tiêu là giảm nhẹ mức độ có tội và hình phạt, đôi khi là bảo vệ vợ, chồng hoặc con cái của họ.

"Nhưng bạn không thể xác định được mục tiêu là gì nếu hai người không có một mối quan hệ đáng tin cậy," Giáo sư Smith nói, đồng thời nhận định cách tốt nhất, ít nhất là ở Mỹ, để xây dựng mối quan hệ như vậy là khẳng định với thân chủ – và thực sự làm đúng như vậy – rằng những gì thân chủ chia sẻ sẽ là bí mật.

"Vì vậy, theo tôi, từ góc nhìn của cả thân chủ lẫn luật sư, không có lý do gì để ủng hộ một nghĩa vụ [bắt buộc khai báo] như ở Việt Nam," bà nói thêm.

Chủ đề liên quan

Tin liên quan








No comments:

Post a Comment